Phần mở đầu nhằm giới thiệu lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu, xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị đóng góp của đề tài. 7 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 Chương 2: Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu liên quan về đặc điểm quản trị doanh nghiệp, việc áp dụng CNTT, HQHĐ doanh từ đó phát triển xây dựng giả thuyết nghiên cứu ở thị trường Việt Nam. Chương 3: Xây dựng các mô hình nghiên cứu liên quan để xác định mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và việc áp dụng CNTT. Chương 4: Thảo luận về các kết quả nghiên cứu thực hiện sau khi chạy các mô hình.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị cho doanh nghiệp và các bên liên quan. 8 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Quản trị doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Humera Khan (2011) định nghĩa quản trị doanh nghiệp là một thuật ngữ rộng mô tả các quy trình, chính sách, nguyên tắc và chỉ đạo của ban quản lý trong các tổ chức, tập đoàn nhằm định hướng, kiểm soát doanh nghiệp và đạt được các mục tiêu nhất định. Zingales (1998) định nghĩa quản trị công ty là “phân bổ quyền sở hữu, cấu trúc vốn, các chế độ quản lý, tiếp quản, HĐQT, áp lực từ các nhà đầu tư tổ chức, cạnh tranh thị trường sản phẩm, cạnh tranh thị trường lao động, cơ cấu tổ chức, v.v…” Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD năm 1999 lại cho rằng "Quản trị công ty là hệ thống mà các tập đoàn kinh doanh được chỉ đạo và kiểm soát các bên liên quan khác, đồng thời nêu ra các quy tắc và thủ tục để đưa ra quyết định về các vấn đề của công ty. Bằng cách này, nó cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được đặt ra và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và giám sát hiệu suất.” Oman (2001) đã định nghĩa quản trị công ty là một thuật ngữ dùng để chỉ các tổ chức tư nhân và công cộng bao gồm luật, quy định và thực tiễn kinh doanh điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhà quản lý công ty và các bên liên quan.
Quản trị công ty còn được biết đến là hệ thống kiểm soát sự cân bằng cả bên trong và bên ngoài công ty, có trách nhiệm giải trình cho tất cả các bên liên quan và hành động có trách nhiệm đối xã hội trong lĩnh vực kinh doanh của mình (Solomon, 2007). Theo Caramanolis Cotelli (1995) quản trị doanh nghiệp là việc phân chia vốn, tài sản giữa những bên liên quan như BGĐ, nhà đầu tư, HĐQT hay các tổ chức, cá nhân có liên hệ mật thiết với ban quản lý công ty. Tương tự vậy, Leifer và Visny (1997) đưa ra khái niệm của quản trị doanh nghiệp chính là quá trình giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong công ty để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư. Có thể nói, quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến mối quan hệ nhiều bên không chỉ ở nội bộ doanh nghiệp như nhân viên, ban quản lý, 9 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 cổ đông và còn có các phòng ban bên ngoài như cơ quan Thuế, nhà đầu tư, đối tác, cộng đồng.
Mối quan hệ này được ràng buộc và được kiểm soát bởi các Bộ luật được nhà nước ban hành, văn hóa, lịch sử quốc gia. Ở Việt Nam, hệ thống các quy định về quản trị doanh nghiệp được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật. Trong đó Bộ Luật Doanh nghiệp có vai trò quan trọng, là tiền đề để giải quyết hầu hết các vấn đề nảy sinh trong các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Theo quy chế quản trị công ty ban hành năm 2007, Bộ Tài chính - Việt Nam đưa ra khái niệm về quản trị công ty là “hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan đến công ty.” Như vậy, quản trị doanh nghiệp là hệ thống các quy tắc, thông lệ, quy trình mà một công ty được chỉ đạo và kiểm soát nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý hiệu quả, mang tính kinh doanh và thận trọng có thể mang lại thành công lâu dài của công ty.
Bên cạnh đó, quản trị công ty liên quan đến việc cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan như HĐQT, BGĐ, nhà đầu tư, khách hàng,. Việc củng cố quản trị doanh nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của mỗi công ty bởi đây là nhân tố quyết định sự phát triển hay thụt lùi, phá sản của doanh nghiệp đó.2 Đặc điểm quản trị doanh nghiệp Theo Alabdullah (2016), quản trị doanh nghiệp luôn thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp trên toàn thế giới vì nó thúc đẩy khả năng tài chính bằng cách tạo cơ hội đầu tư dài hạn cho các doanh nghiệp trên thương trường. Nhâm Anh Tuân và Nguyễn Phong Tuấn (2013) cho rằng quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các mối quan hệ giữa HĐQT, BGĐ, ban kiểm soát (BKS). Các cổ đông bầu ra một thể chế giám sát, thường được gọi là HĐQT hoặc BKS để đại diện cho quyền lợi của mình.
Trách nhiệm chính của thể chế này là đưa ra định hướng chiến lược cho BGĐ và giám sát họ. Theo Fan (2004), thành viên BGĐ có trách nhiệm cung cấp thông tin về các báo cáo tài chính (BCTC) và các báo cáo hoạt động thường kỳ cho HĐQT. Có thể nói, HĐQT và BGĐ ảnh hưởng 10 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 trực tiếp đến vấn đề quản trị doanh nghiệp. Trong đó, BGĐ chịu trách nhiệm trước HĐQT, và thể chế này lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua đại hội cổ đông.
Theo các nghiên cứu của Weisbach (1988) và Dah và Frye (2017), HĐQT là nhóm các cá nhân được cổ đông bầu ra với nhiệm vụ đại diện, tư vấn và giám sát ban quản lý doanh nghiệp. Adams và Ferreira (2007) cho rằng HĐQT là cơ quan pháp lý đề ra những quyết sách cho doanh nghiệp. Với các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán, HĐQT do các cổ đông đề cử, theo cách này, lợi ích của cổ đông được đại diện gián tiếp bởi HĐQT (Forbes và Milliken, 1999 ; Hillman và Dalziel, 2003). Như vậy, HĐQT của một doanh nghiệp là cơ quan giám sát và ra quyết định cao nhất của công ty.
Thông qua các chức năng của mình, HĐQT hỗ trợ quá trình ra quyết định, cũng như các lĩnh vực khác của doanh nghiệp. Cụ thể, nó giúp doanh nghiệp áp dụng các biện pháp thích hợp để đạt được HQHĐ tốt và tiếp tục hoạt động một cách trơn tru. Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa cấu trúc của HĐQT và hành vi của công ty; ví dụ, HĐQT mạnh làm giảm khả năng gian lận tài chính (Chen và cộng sự, 2006) hay giảm việc chiếm đoạt thông qua các giao dịch với bên liên quan (Lo và cộng sự, 2010). Cơ cấu HĐQT thường do các cổ đông trong doanh nghiệp lựa chọn và kết quả hoạt động của công ty cũng có thể ảnh hưởng đến các đặc điểm của cơ chế này.
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều sự quan tâm đến hoạt động của HĐQT, đặc biệt là các đặc điểm của nó như quy mô, các thành viên, tính kiêm nhiệm… Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để đẩy mạnh hiệu quả quản trị doanh nghiệp?” của công ty, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hưởng của quy mô HĐQT là một yếu tố quan trọng tác động đến cơ chế này. Eisenberg và cộng sự (1998) cho rằng quy mô HĐQT lớn hơn có thể cung cấp nhiều kiến thức chuyên môn hơn để thực hiện vai trò cố vấn của HĐQT, giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn lực quan trọng, mang lại nhiều kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng, đồng thời giảm rủi ro cho doanh nghiệp. Theo lý thuyết đại diện, quy mô HĐQT lớn cho phép giám sát có hiệu quả hơn bằng cách giảm sự chi phối của các giám đốc và bảo vệ lợi ích của các cổ đông (Singh và Harianto, 1989; Phan Thị Huyền và cộng sự, 2020). Một số nhà nghiên cứu khác lại có quan điểm ngược lại.
Yermack (1996) khi khảo sát 452 doanh nghiệp lớn và nhỏ ở Hoa Kỳ vào giai đoạn 11 Downloaded by mon hon (monmon1@gmail.com) lOMoARcPSD|39211872 1984 - 1991 đã tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa quy mô HĐQT và HQHĐ doanh nghiệp. Nghiên cứu của Rashid và cộng sự (2020) khẳng định nếu doanh nghiệp có quá nhiều thành viên trong HĐQT sẽ gặp phải một số vấn đề về điều phối doanh nghiệp, kiểm soát hoạt động, tự do linh hoạt trong quá trình ra quyết định và sự thiếu thống nhất khi đưa ra các ý kiến. Tuy nhiên, nếu HĐQT doanh nghiệp có quá ít thành viên thì việc đưa ra quyết định cũng có thể bị ảnh hưởng do các ý kiến thiếu chính xác hoặc gặp phải tình trạng tập quyền. Định kiến xã hội về bất bình đẳng giới đã cản trở sự thăng tiến của phụ nữ trong công việc cũng như khiến họ khó có được vị trí lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp.
Họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn nam giới để đạt được và duy trì các vị trí điều hành quan trọng. Nghiên cứu của Ho và cộng sự (2015) đã cho thấy một tín hiệu tích cực đó là sự xuất hiện của nữ giới trong các phòng ban quan trọng của doanh nghiệp còn thấp nhưng tỷ lệ các công ty có các nhà quản lý là nữ lại tăng đáng kể. Liên minh Châu Âu (EU) đã ban hành các quy định để thúc đẩy bình đẳng giới trong HĐQT cũng như BGĐ ở các doanh nghiệp như đặt ra hạn ngạch tối thiểu cho các thành viên HĐQT nữ là 40% vào năm 2020. Tương tự, một số quốc gia khác cũng đặt ra quy định về tỷ lệ thành viên nữ trong ban điều hành như Malaysia tối thiểu là 30% từ năm 2011, Ấn Độ quy định mỗi doanh nghiệp có tối thiểu một phụ nữ trong BGĐ từ năm 2012, Brazil là 40% từ năm 2022 (Deloitte, 2013).
Nhưng điều đáng buồn là thực tế, một số công ty lại thuê ngoài các giám đốc nữ chỉ để tuân thủ các quy định trên và họ thường bị xếp xuống vai trò quản trị thứ cấp. Năm 2006, New York Times báo cáo rằng chỉ có 9 trong 500 CEO của Fortune 500 là nữ, tương ứng với tỷ lệ chưa đến 2% (Creswell, 2006).