CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Mặc dù các bằng chứng thực nghiệm chưa hoàn toàn thống nhất về kết quả, nhưng việc lược khảo này đã từng bước làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của quy chế quản trị doanh nghiệp đến CBTTTNXH. Xét về tổng thể, đây không phải là chủ đề mới và đã được nhiều học giả trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhân tố quản trị công ty và CBTTTNXH tại các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, có thể khác biệt so với tại các nước có nền kinh tế tiến bộ. Vì vậy, để trình bày ý tưởng nghiên cứu một cách khoa học và logic, tác giả hệ thống các bằng chứng thực nghiệm nổi bật theo nhóm các nhân tố.
Từ đó, mô hình nghiên cứu, trình bày trong chương sau, sẽ được thiết kế, kết nối dựa trên nền tảng các nghiên cứu đã lược khảo. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến CBTTTNXH Những nghiên cứu trước đã chứng minh rằng mức độ CBTTTNXH trong báo Luận văn Kinh tế cáo thường niên của doanh nghiệp ở những nước phát triển tăng theo thời gian để đáp ứng yêu cầu của một số nhân tố. Một số lý do có thể là để gia tăng tính hợp pháp, rủi ro, hoạt động của các nhóm áp lực, nhà đầu tư có đạo đức, sự kiện, giải thưởng, hoạt động kinh tế, quan tâm truyền thông, nhận thức xã hội, và chính trị (Haniffa & Cooke, 2005). Qua việc lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy có những nhân tố tác động đến mức độ CBTTTNXH như: Sở hữu quản lý, Sở hữu nhà nước, Sở hữu nước ngoài, Thành viên độc lập HĐQT, Vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT, Ủy ban kiểm toán.
Một số lượng lớn nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành điều tra tác động của QTCT đến vấn đề CBTTTNXH. Một số biến đại diện cho QTCT được xem xét phổ biến như cơ cấu và quy mô của HĐQT (Khan, 2010; Khan và cộng sự, 2013), giới tính của thành viên HĐQT (Said và cộng sự, 2009), cấu trúc sở hữu doanh nghiệp (Ghazali, 2007; Eng và Mak, 2003; Majeed và cộng sự, 2015). Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này thường mâu thuẫn và chưa thống nhất. Cụ thể, một số kết quả nghiên cứu báo cáo các biến đại diện cho QTCT như sở 9 hữu nước ngoài, thành viên độc lập HĐQT, vai trò kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT, ủy ban kiểm toán có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê với CBTTTNXH; trong khi một số nghiên cứu khác phát hiện ra mối tương quan âm; hay thậm chí một số nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ mối tương quan nào.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về CBTTTNXH chỉ mới đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và báo cáo trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam (Phạm Đức Hiếu); hay nghiên cứu của Hồ Thị Vân Anh tìm hiểu về mối quan hệ giữa “Trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính” với bằng chứng thực nghiệm là các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Một số nghiên cứu khác khám phá vấn đề CBTTTNXH trong phạm vi nhỏ hơn. Chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Phương Mai (2013), tìm hiểu về TNXHDN trong ngành dệt may tại Việt Nam. Trong khi đó, số lượng các nghiên cứu khám phá tác động của nhân tố QTCT đến mức độ CBTTTNXH còn rất hạn chế.
Trong phạm vi tìm hiểu của mình, tác giả phát hiện có nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Hữu Hòa (2017). Tuy nhiên nghiên cứu này Luận văn Kinh tế chỉ tập trung khám phá tác động của nhân tố QTCT đến việc CBTTTNXH tại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam chứ chưa đưa ra được kết luận cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác như dịch vụ, thương mại, bất động sản. Từ đó, tác giả xác định những khe hổng nghiên cứu quan trọng để nhận dạng vấn đề nghiên cứu của mình: Thứ nhất, Kết quả các nghiên cứu trước mâu thuẫn, có thể là do có sự khác biệt về thước đo TNXH, phương pháp tiến hành, quy mô mẫu và các giai đoạn nghiên cứu. Đặc biệt, nghiên cứu về chủ đề CBTTTTXH ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Thứ hai, Phần lớn các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và CBTTTNXH được thực hiện ở các nước phát triển và có sự giới hạn các nghiên cứu tương tự tại ở các nước có nền kinh tế mới nổi. Ngoài ra, một số học giả cho rằng TNXH bị ảnh hưởng bởi bối cảnh thể chế, văn hóa cũng như quy định, luật pháp ở 10 từng nước, từng khu vực nên việc thực hành CBTTTNXH có thể sẽ khác nhau khi các nghiên cứu được tiến hành ở từng vị trí địa lý khác nhau. Thứ ba, Do việc thực hiện CBTTTNXH ở các nước có nền kinh tế mới nổi khác biệt so với ở các nước phát triển nên tiêu chuẩn báo cáo liên quan đến vấn đề TNXH ở hai nhóm nước này không thống nhất. Cụ thể việc tổng hợp sẽ được tác giả trình bày qua bảng tổng hợp sau: Luận văn Kinh tế 11 Bảng 1.
1: Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTNXH Biến Tác giả Kết quả Sở hữu quản lý Ghazali (2007) _ Khan và cộng sự (2013) _ (Tuy nhiên, khi xem xét những doanh nghiệp định hướng xuất khẩu, nhà quản lý có xu hướng CBTTTNXH nhiều hơn.) Sở hữu nhà nước Eng và Mak (2003) + Luận văn Kinh tế Ghazali (2007) + Said và cộng sự (2009) + Khan và cộng sự (2013) + Sở hữu nước ngoài Haniffa và Cooke (2005) + Khan (2010) + Khan và cộng sự (2013) + Majeed và cộng sự (2015) _ Thành viên độc lập Eng và Mak (2003) _ HĐQT Khan và cộng sự (2013) + 12 Majeed và cộng sự (2015) Không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê. Vai trò kiêm nhiệm Haniffa và Cooke (2005) + giữa CEO và chủ Jizi và cộng sự (2014) + tịch HĐQT (Đề xuất giả thuyết vai trò kiêm nhiệm CEO tác động nghịch chiều đến mức độ CBTTTNXH. Chưa đưa ra lý do giải thích cho kết quả.) Khan và cộng sự (2013) Không tìm thấy mối tương Luận văn Kinhquantế có ý nghĩa thống kê. Ủy ban kiểm toán Said và cộng sự (2009) + Khan và cộng sự (2013) + Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 1.
Bàn luận kết quả đạt được từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước 1. Mối quan hệ giữa sở hữu quản lý với CBTTTNXH Ảnh hưởng của sở hữu quản lý đến việc công bố thông tin tự nguyện từ lâu đã là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kế toán. Johnson và Greening (1999) đã phát hiện ra mối tương quan dương giữa sở hữu của ban quản lý cấp cao và hiệu quả hoạt động xã hội liên quan đến vấn đề môi trường và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, Mohd Nasir và Abdullah (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến mức độ công bố tự nguyện giữa các công ty tài chính ở Malaysia và nhận thấy rằng sở hữu quản lý có mối tương quan dương với mức độ công bố tự 13 nguyện.
Trong khi kết quả thực nghiệm của Donnelly và Mulcahy (2008) lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa công bố tự nguyện và sở hữu quản lý. Mặt khác, nhiều nghiên cứu lại chỉ ra rằng sở hữu quản lý tác động nghịch chiều đến mức độ công bố tự nguyện, đặc biệt đối với các doanh nghiệp mà quản lý chủ yếu bao gồm các thành viên trong gia đình. Chau và Gray (2002) phát hiện ra mối tương quan âm giữa sở hữu gia đình và thực hành công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết tại Hồng Kông và Singapore. Ho và Wong (2001); Eng và Mak (2003) báo cáo kết quả tương tự khi xem xét các doanh nghiệp niêm yết lần lượt ở Hồng Kông và Singapore.
Tuy nhiên các nghiên cứu này đánh giá mức độ công bố thông tin trên cả hai phương diện thông tin tài chính và phi tài chính, không đánh giá riêng mức độ CBTTTNXH. Trong khi đó, Ghazali (2007) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia, chứng minh những doanh nghiệp mà nhà quản lý và giám đốc điều hành nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu Luận văn Kinh tế cao, có xu hướng công bố ít thông tin liên quan đến TNXH hơn trong BCTN. Bên cạnh đó, theo Oh và cộng sự (2011), ở một số nước Châu Á, đặc biệt những nước mà nhà quản lý chịu ít áp lực thể chế liên quan đến các vấn đề xã hội, thì nhiều khả năng họ sẽ theo đuổi các chiến lược ngắn hạn để tăng lợi nhuận hơn là đầu tư hoạt động cộng đồng và CBTTTNXH. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Khan và cộng sự (2013) tại Việt Nam cũng phát hiện ra mối tương quan âm giữa sở hữu quản lý và CBTTTNXH.
Tuy nhiên, khi xem xét những doanh nghiệp định hướng xuất khẩu, các tác giả nhận thấy nhà quản lý có xu hướng báo cáo nhiều thông tin TNXH hơn do áp lực từ khách hàng quốc tế. Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với CBTTTNXH Nhiều nghiên cứu trước đã chứng minh rằng cấu trúc sở hữu phân tán sẽ góp phần tăng thêm áp lực trong việc công bố tự nguyện (Ullmann, 1985, Chau and Gray, 2002). Kết quả nghiên cứu của Ghazali (2007) chỉ ra rằng những doanh nghiệp mà nhà nước là cổ đông lớn, sẽ công bố nhiều thông tin TNXH hơn trong BCTN. Phần lớn các doanh nghiệp trong số này được cổ phần hóa theo chính sách kinh tế, chính 14 trị quốc gia.
Do được thành lập với mục đích đặc biệt, nên các doanh nghiệp càng phải tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội, cộng đồng để báo hiệu rằng doanh nghiệp đang hoạt động theo kỳ vọng của quốc gia. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Eng và Mak (2003) về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu và các thành phần trong HĐQT đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của 158 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Singapore. Thực hiện nghiên cứu tại Malaysian, Said và cộng sự (2009) kiểm chứng tác động của sở hữu nhà nước đến mức độ CBTTTNXH và báo cáo rằng sự can thiệp của chính phủ có thể tạo áp lực cho các doanh nghiệp công bố thông tin nhiều hơn, bởi vì chính phủ là một cơ quan được công chúng tin tưởng. Tiếp sau đó, Khan và cộng sự (2013) cũng đưa ra kết quả nhất quán.