Chương 1: Sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc thời Tùy - Đường. Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo trên một số khía cạnh xã hội Trung Quốc thời Tùy - Đường. Chương 3: Ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc thời Tùy - Đường đối với Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƢỜNG 1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc 1.1 Bức tranh tổng quát về đất nước Trung Quốc thời kỳ trước khi Phật giáo du nhập * Bối cảnh văn hóa, kinh tế, chính trị Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh cổ xưa của nhân loại.
Nền văn minh này không chỉ độc đáo bởi chính sự hiện diện lâu đời của nó, mà còn tác động đến sự hình thành và phát triển màu sắc văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới. Tất nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển, văn minh Trung Hoa cũng tiếp xúc với nhiều nguồn văn minh của thế giới. Chính sự tương tác qua lại giữa chúng đã làm cho văn minh Trung Quốc trở nên phong phú và đa dạng. Ảnh hưởng nổi bật và sớm nhất của nguồn văn hóa bên ngoài đối với Trung Hoa cổ đại là sự giao thoa giữa hai nền văn minh tầm cỡ của thế giới, là Ấn Độ và Trung Hoa.
Có thể nói rằng, sự hiện diện của Phậtgiáo trong vùng đất rộng lớn và đông cư dân này đã mở ra một bước ngoặt mới trong quá trình tồn tại và phát triển của đất nước Trung Hoa. Chính cuộc chinh phục của Phật giáo đã tạo ra một cuộc cách mạng tư tưởng trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân dân Trung Hoa. Theo học giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn “Lịch sử Trung Quốc”, vào thời nhà Hán, lãnh thổ Trung Hoa mở rộng rất nhiều: phía Bắc tới Mãn Châu, Triều Tiên; phía Nam đến tận Đông Dương Bắc Miến Điện; phía Tây đến Tây Tạng; phía Tây Bắc tới vùng Trung Á. Về tư tưởng chính trị, từ thời Tiên Tần trở về sau, theo học giả Nguyễn Hiến Lê, chính trị Trung Quốc có thể tóm gọn trong hai trường phái: hữu vi và vô vi.
Hữu vi chủ trương can thiệp vào đời sống của người dân, vô vi chủ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trương không can thiệp vào đời sống của người dân. Phái hữu vi lại bao gồm hai phái là nhân trị và pháp trị. Chủ trương nhân trị, gồm các nhà chính trị như Khổng Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử. cho rằng tư cách của người lãnh đạo, bao gồm đạo đức và năng lực, là quan trọng nhất.
Trong khi ấy giới chủ trương pháp trị như Thương Ưởng, Hàn Phi. lại cho rằng người cầm quyền không cần tư cách, vì nếu pháp luật nghiêm khắc, thưởng phạt công minh thì một người không có tài đức cũng có thể trị nước được. Hai phái này còn được gọi là Nho gia và Pháp gia. Vào thế kỷ thứ III TCN, nhà Tần bảo trợ Pháp gia và ngược đãi Nho gia.
Tuy vậy, sau một thời gian do dự, Hán triều đã ưu đãi giới Nho học. Sự bành trướng của Nho giáo có thể được xem như là hệ quả từ cuộc tranh luận kéo dài hơn hai thế kỷ giữa hai phái Nho gia và Pháp gia, không chỉ trên bình diện triết học mà còn bao gồm mục tiêu chính trị. Chính cuộc tranh luận ấy đã đưa Nho học lên bục danh vọng gắn liền với cái tên bất tử của Khổng Tử. Sự phá sản của giai cấp quý tộc phong kiến được nhà Tần thống nhất lại; rồi sự sụp đổ của nhà Tần bằng cuộc nội chiến lâu dài đưa đến việc ra đời của nhà Hán.
Trật tự xã hội của triều đại nhà Hán về cơ bản được xây dựng trên hai tầng lớp xã hội.Tầng lớp thống trị nhà Hán đa số xuất thân từ tầng lớp bình dân, là quyến thuộc của lực lượng nông dân và số tướng lĩnh trung thành với họ. Đặc biệt, quan lại trong bộ máy chính quyền của nhà Hán khắp Trung Hoa thời ấy bao gồm giai cấp địa chủ của các thời đại trước, hoặc số người nhờ ân huệ của triều đại mới qua việc buôn bán đất đai, nổi lên như là lớp người được ưu đãi nhất. Vì giàu có, lại có nhiều quyền lực và biết tập trung vào lĩnh vực giáo dục, số người ấy trở thành tầng lớp ưu tú của thời đại. Họ làm việc và củng cố địa vị của mình bằng việc đào tạo những chuyên ngành như học sĩ, quan chức của triều đình.
Họ tự biến mình thành lớp người bảo hộ quốc gia từ trung ương đến địa phương. Tầng lớp bị trị là nhân dân lao 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động, bao gồm nông dân và thợ thủ công, mà kế sinh nhai là nghề nông, buôn bán hoặc làm thuê v. Về kinh tế, thời kỳ nhà Hán có một sự phát triển vượt trội. Hán Cao Tổ khuyến khích nông nghiệp.
Về nông nghiệp, nhà Hán tiếp tục chính sách của nhà Tần. Sau mấy năm loạn lạc, cuối đời Tần, nhiều đất bỏ hoang, dân nghèo, Cao Tổ khuyến khích nông nghiệp, cho quân đội giải ngũ về làm ruộng, giảm thuế ruộng, có nơi chỉ còn 3% huê lợi, có nơi lại miễn thuế luôn nữa.Nhờ kỹ thuật nấu sắt, nông cụ sắt bén hơn, cày sâu hơn, phá rừng, đào kinh dễ hơn, nhiều miền trước chỉ làm rẫy (đốt rừng rồi gieo) bây giờ thành điền.Kỹ thuật cũng tiến bộ: người ta biết cách luân canh, chế tạo một kiểu xe để gieo giống, một kiểu cối xay chạy bằng sức nước. Bên cạnh đó, Võ Đế rất quan tâm tới việc đắp đê ngăn lụt (nhất là sông Hoàng Hà), đào kinh tháo nước và tưới ruộng. Ông cho đào một con kinh song song với sông Vị nối Tràng An với sông Hoàng Hà.
Nhờ những chính sách tích cực của nhà Hán mà cuộc sống của người dân trở nên khá giả. Công nghiệp đời Hán có nhiều bước cải tiến. Những cổ vật được ngành khảo cổ khai quật như sành sứ, gốm, lụa, sơn, vàng, bạc, đồng. cho thấy được chế tạo khá tinh xảo.
Hoạt động thương mại trong thời kỳ này cũng diễn ra với nhiều màu sắc. Ở trong nước, thương mại phát triển nhờ chính sách của Hán Võ Đế qua việc cho đúc nhiều tiền, mở nhiều đường giao thông. Trên những con đường khắp cả nước, các trạm thông tin liên lạc được thiết lập và quán xá ăn uống cũng như quán trọ qua đêm cũng được dựng lên. Thông qua những giao lộấy, việc trao đổi, buôn bán của ngành thương nghiệp phát triển nhanh chóng.
Giao thương, buôn bán với ngoại quốc cũng là một điểm mạnh của thời kỳ nhà Hán. Ở phương Nam, ví dụ như Quảng Châu, nhiều thị trấn dọc theo bờ biển đã hình thành. Giới thương nhân ngoại quốc đã thiết lập mối quan hệ với người Hán qua những trung tâm buôn bán thịnh vượng, việc trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người Trung Hoa và Bactriane, Parthie cũng như Ấn Độ thường xuyên diễn ra. Đời sống của nhân dân được cải 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiện rõ rệt, đặc biệt là giới hoàng thân, quốcthích và hàng ngũ quan lại.
Với những đặc ân và sự bảo trợ của triều đình, cuộc sống của tầng lớp thượng lưu này càng ngày càng trở nên giàu có và xa xỉ. Họ xây dựng nhiều nhà cửa, cung điện sang trọng với nghệ thuật điêu khắc, trang trí vô cùng công phu, phản ánh một cuộc sống có tổ chức và văn hóa cao. * Bối cảnh tôn giáo Từ thời nguyên thủy cho đến ngày nay, Trung Hoa luôn là một quốc gia có nhiều tôn giáo. Trong xã hội nguyên thủy, Trung Quốc là một quốc gia theo tư tưởng đa thần, vì lúc ấy chưa có một loại thần nào được quan niệm là chủ tể, lãnh đạo tối cao toàn thể thiên nhiên và xã hội.
Lúc này con người cho rằng, mỗi hiện tượng trong vũ trụ này đều do một vị thần chủ trương: thần gió, thần mưa, thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông… Khi xã hội đi vào tổ chức, phân loại giai cấp cùng với sự ra đời của chế độ lãnh chúa và xã hội phong kiến, tư tưởng nhất thần cũng dần dần hình thành thông qua quyền lực tối cao của người lãnh đạo. Hình ảnh độc tôn và đầy uy quyền của vị vua như là hiện thân của thượng đế được phác họa vào triết lý tôn giáo, vì vua là con trời hay còn gọi là thiên tử. Tư tưởng tôn giáo nhất thần này xuất hiện từ triều đại nhà Hạ, sau đó được hầu hết các chế độ phong kiến duy trì và phát triển cho đến khi sụp đổ. Đến triều đại nhà Chu, hoạt động tâm linh dần dần đi vào tổ chức và phát triển thành những hệ thống tư tưởng và triết lý, tạo thành nhiều trường phái khác nhau.
Trong số đó, hai dòng tư tưởng nổi bật vào thời kỳ nhà Hán là Khổng giáo và Lão giáo. Theo giới nghiên cứu, Khổng giáo là một hệ thống tư tưởng chính trị - đạo đức, trong khi ấy Lão giáo bao gồm triết học huyền bí và khổ hạnh. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nho giáo, còn gọi Khổng giáo, là học thuyết do Khổng Tử, tên Khâu tự Trọng Ni, sinh tại nước Lỗ thuộc phía Nam tỉnh Sơn Đông ở miền Đông Trung Quốc ngày nay, khai sáng. Hạt nhân của triết học Nho gia là Nhân, Lễ và Trung Thứ.
Trên nền tảng đó, giới Nho gia đã phát triển thành cả một hệ thống triết học đạo đức, chính trị và lịch sử. Bên cạnh ấy, Khổng Tử còn đề xướng một học thuyết quan trọng là Chính danh. Theo ông, muốn xã hội có trật tự thì trước hết phải chính danh. Nói khác đi, mỗi cái danh bao hàm một số điều kiện tạo nên bản chất của một loại sự vật mà cái danh có liên quan.
Ví dụ, bản chất của vua bao gồm một số điều kiện lý tưởng mà một người làm vua phải hội đủ và phải phù hợp với vương đạo. Hành động theo vương đạo thì vua mới thật là vua, phù hợp với cả danh lẫn thực. Cũng vậy, trong mối tương quan xã hội, mọi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận, ai nhân danh chúng đều phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với danh xưng ấy. Đây gọi là thuyết Chính danh.
Cuối cùng, một học thuyết mà về sau được người Trung Quốc mệnh danh là Đạo hiếu.