Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao, hạt chứa khoảng 40% protein, 20% chất béo cùng nhiều vitamin và axit amin thiết yếu. Ngoài vai trò làm thực phẩm cho người, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu công nghiệp, đậu nành còn có khả năng cộng sinh cố định đạm giúp cải tạo đất và bồi dưỡng độ phì nhiêu. Tuy nhiên, theo số liệu thực tế, diện tích và sản lượng đậu nành tại Việt Nam có xu hướng suy giảm liên tục (năm 2021 diện tích chỉ còn 36,8 nghìn ha, sản lượng 59,1 nghìn tấn, chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu tiêu thụ nội địa).

Tại vùng đất xám Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đất canh tác có đặc tính chua nhiều, sa cấu cát pha thịt, nghèo mùn và dinh dưỡng khoáng. Trong mối quan hệ đất - cây trồng - phân bón, kali (K) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng giữ vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy quang hợp, vận chuyển hydrat carbon, tăng cường độ cứng cáp của thân lá, nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi, đồng thời trực tiếp quyết định độ chắc mẩy của hạt và năng suất cây trồng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về việc tối ưu hóa lượng phân bón nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trên đất xám, đề tài nghiên cứu đã được triển khai.

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được lượng phân kali phù hợp để cây đậu nành sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế khi trồng ở vụ Xuân Hè 2023 trên vùng đất xám tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu

  1. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng đánh giá ảnh hưởng của các mức bón kali khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống đậu nành ĐT 51.
  2. Theo dõi mức độ phát sinh và gây hại của các đối tượng sâu bệnh hại chính trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây.
  3. Đo đạc, thu thập các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất hạt (năng suất lý thuyết và năng suất thực thu quy về độ ẩm tiêu chuẩn 12%).
  4. Tính toán, lượng hóa các chỉ số hiệu quả kinh tế (tổng thu, tổng chi, lợi nhuận thuần và tỷ suất lợi nhuận) của từng nghiệm thức bón phân.
  5. Xử lý và phân tích số liệu thống kê nông học đảm bảo độ tin cậy khoa học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống đậu nành ĐT 51 và 5 mức liều lượng phân kali bón bổ sung ($K_2O$).
  • Phạm vi không gian: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (vùng đất xám TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân Hè 2023 (từ tháng 3/2023 đến tháng 7/2023).
  • Giới hạn đề tài: Đề tài chỉ khảo nghiệm trên 5 mức phân kali trong điều kiện một vụ Xuân Hè tại địa bàn nghiên cứu; chưa thực hiện phân tích các chỉ tiêu sinh hóa về phẩm chất hạt (hàm lượng protein, lipid, khoáng vi lượng trong hạt) do giới hạn về kinh phí và thời gian.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và tài liệu tham khảo

Đề tài dựa trên cơ sở sinh lý dinh dưỡng khoáng cây đậu nành, cơ chế cộng sinh cố định đạm khí trời qua vi khuẩn nốt sần rễ (Rhizobium japonicum), và đặc tính thổ nhưỡng đất xám bạc màu:

  • Cơ sở khoa học về phân bón cho đậu nành: Đậu nành có thể tự đáp ứng 60 - 70% nhu cầu đạm nhờ vi khuẩn nốt sần nhưng đòi hỏi cao về lân và kali. Kali xúc tiến vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá vào hạt, tăng tỷ lệ hạt mẩy và giảm rụng quả.
  • Tiêu chuẩn áp dụng: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương (QCVN 01-58:2011/BNNPTNT); các phương pháp phân tích lý hóa tính đất theo TCVN 5979:2007 (pH nước), TCVN 4401:1987 (pH KCl), TCVN 8941:2011 (chất hữu cơ), TCVN 6498:1999 (N tổng số), TCVN 8942:2011 ($P_2O_5$ dễ tiêu).

Điều kiện đất đai và khí hậu thí nghiệm

  • Đặc điểm lý hóa tính đất xám khu thí nghiệm: Sa cấu cát pha thịt (82% cát, 10% thịt, 8% sét); đất chua nhiều ($\text{pH}_{\text{H}2\text{O}} = 5,1$; $\text{pH}{\text{KCl}} = 4,9$); hàm lượng chất hữu cơ thấp (1,21%); đạm tổng số nghèo (0,05%); lân dễ tiêu thấp (13,1 mg/100g).
  • Khí hậu vụ Xuân Hè 2023: Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 28,3 đến 30,4°C; tổng giờ nắng từ 182,6 đến 246,4 giờ/tháng; lượng mưa phân bố không đều (tháng 3 và 4 hầu như không mưa, tập trung cao vào tháng 6 với 316,7 mm); độ ẩm không khí 73 - 79%. Cần duy trì tưới nước nhân tạo trong giai đoạn đầu.

Vật liệu nghiên cứu

  • Giống đậu nành: ĐT 51 (chọn lọc từ tổ hợp lai LS 17 × DT 2001 bởi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm), thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày, hoa tím, hạt vàng, rốn nâu đậm.
  • Phân bón sử dụng: Phân bò ủ hoai mục; phân đạm urea Phú Mỹ (46,3% N); phân lân nung chảy Văn Điển (15 - 17% $P_2O_5$, 28 - 38% CaO, 15 - 18% MgO, 24 - 30% $\text{SiO}_2$); phân kali clorua (KCl, 60% $K_2O$); vôi bột (40% CaO).

Phương pháp bố trí thí nghiệm và quy trình kỹ thuật

  • Bố trí thí nghiệm: Khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) đơn yếu tố với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (tổng số 15 ô cơ sở). Kích thước mỗi ô thí nghiệm là $5\text{ m} \times 4\text{ m} = 20\text{ m}^2$; tổng diện tích khu thí nghiệm là 456 $\text{m}^2$.
  • Các nghiệm thức thí nghiệm:
    • Nghiệm thức 1 (K1): 60 kg $K_2O$/ha
    • Nghiệm thức 2 (K2 - Đối chứng): 80 kg $K_2O$/ha
    • Nghiệm thức 3 (K3): 100 kg $K_2O$/ha
    • Nghiệm thức 4 (K4): 120 kg $K_2O$/ha
    • Nghiệm thức 5 (K5): 140 kg $K_2O$/ha
  • Nền phân bón chung: 5 tấn phân bò ủ hoai + 200 kg CaO (vôi bột) + 30 kg N (64,8 kg urea) + 90 kg $P_2O_5$ (563 kg phân lân nung chảy Văn Điển)/ha.
  • Phương pháp bón: Bón lót toàn bộ phân bò, phân lân, vôi + 1/2 lượng N + 1/2 lượng K; bón thúc 1 lần khi cây có 2 - 3 lá thật với 1/2 lượng N + 1/2 lượng K còn lại.
  • Mật độ và khoảng cách: Hàng cách hàng 30 cm, cây cách cây 10 cm, gieo 1 hạt/hốc (mật độ 33,3 cây/$\text{m}^2$, tương đương 333.333 cây/ha).

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

  • Chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây (đo 10 ngày/lần trên 10 cây mẫu cố định/ô); số lá, số cành cấp 1; khối lượng chất tươi và chất khô (sấy 70°C đến khối lượng không đổi tại thời điểm ra hoa rộ và thu hoạch); tổng số nốt sần và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu (tại 50 ngày sau gieo - NSG); tỷ lệ sâu bệnh hại chính (sâu đục quả Etiella zinckenella, sâu xanh da láng Spodoptera exigua, bệnh lở cổ rễ Rhizoctonia solani); các yếu tố cấu thành năng suất (số quả/cây, số quả chắc/cây, khối lượng 100 hạt) và năng suất hạt.
  • Công thức quy đổi độ ẩm chuẩn: $P_{12%} = \frac{100 - H_0}{100 - 12} \times P_0$ (trong đó $H_0$ là độ ẩm ban đầu đo bằng máy Kett PM-410, $P_0$ là trọng lượng hạt khô thực tế).
  • Phân tích thống kê: Nhập liệu trên Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định so sánh phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ bằng phần mềm SAS 9.1.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn về cây đậu nành:

  • Nguồn gốc phát sinh từ Đông Bắc Á (Trung Quốc), lịch sử phát triển trên thế giới và tại Việt Nam. Phân loại thực vật học gồm đậu nành hoang dại (Glycine usuriensis), nửa hoang dại (Glycine gracilis) và đậu nành trồng (Glycine max (L.) Merrill); phân nhóm chu kỳ sinh trưởng từ chín rất sớm (75 - 90 ngày) đến rất muộn (140 - 160 ngày).
  • Đặc tính thực vật học của các cơ quan: bộ rễ và hoạt động cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium japonicum hình thành sắc tố leghaemoglobin trong nốt sần hữu hiệu; đặc điểm thân thảo ít phân cành, lá kép 3 lá chét, hoa cánh bướm tự thụ phấn (tỷ lệ rụng hoa 30 - 80%), cấu trúc quả và hạt.
  • Nhu cầu sinh thái (nhiệt độ tối thích 24 - 34°C, quang kỳ ngày ngắn 12 - 14 giờ nắng, nhu cầu nước 400 - 700 mm) và nhu cầu dinh dưỡng đa - trung - vi lượng (N, P, K, Ca, Mo).
  • Giá trị kinh tế trong ngành thực phẩm, công nghiệp chế biến và nông nghiệp (thức ăn chăn nuôi, luân canh cải tạo đất bổ sung 20 - 40 kg N/ha sau mỗi vụ).
  • Tổng hợp số liệu sản xuất: Toàn cầu năm 2021 đạt 129,5 triệu ha, năng suất 2,9 tấn/ha, sản lượng 371,7 triệu tấn (châu Mỹ chiếm 87,2% sản lượng); tại Việt Nam năm 2021 diện tích đạt 36,8 nghìn ha, năng suất trung bình 1,6 tấn/ha, sản lượng 59,1 nghìn tấn.
  • Lược khảo các công trình nghiên cứu về phân bón kali trong nước và quốc tế (Krueger et al., 2013; Vyn et al., 2002; Magen, 2010; Jones et al., 1977; Bharati et al., 1986; Tô Văn Thống, 1994; Trần Thị Trường & Trần Thanh Bình, 2005; Hoàng Thị Mai et al., 2020; Bùi Viết Quân, 2016; Nguyễn Văn Huỳnh, 2012).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận và các bước triển khai thực nghiệm:

  • Địa điểm và thời gian thực hiện: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Đại học Nông Lâm TP.HCM (3/2023 - 7/2023).
  • Điều kiện thời tiết thực tế và đặc điểm lý hóa tính của tầng đất canh tác thí nghiệm.
  • Đặc điểm nguồn vật liệu: Nguồn gốc giống ĐT 51 và các chủng loại phân bón thương mại sử dụng.
  • Phương pháp thiết kế thí nghiệm theo khối RCBD 5 nghiệm thức × 3 lần lặp lại, xác định kích thước ô, dải phân cách và sơ đồ bố trí trên đồng ruộng.
  • Quy trình kỹ thuật đồng ruộng chuẩn hóa theo QCVN 01-58:2011/BNNPTNT từ khâu làm đất, lên luống cao 25 - 30 cm, kỹ thuật bón phân lót - thúc, chế độ tưới tiêu, biện pháp quản lý cỏ dại và bảo vệ thực vật.
  • Phương pháp lấy mẫu, công thức tính toán và hệ thống chỉ tiêu theo dõi về nông học, sâu bệnh, năng suất và phân tích kinh tế.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được kèm theo phân tích thảo luận chuyên sâu:

1. Ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển

  • Chiều cao cây: Tại 15 NSG, các nghiệm thức chưa có sự sai khác thống kê ($F = 0,6^{ns}$). Từ 25 NSG trở đi, liều lượng kali tác động có ý nghĩa thống kê rõ rệt ($p < 0,05$). Ở giai đoạn 65 NSG, chiều cao đạt cao nhất ở nghiệm thức K5 (60,9 cm), K4 (60,2 cm) và K3 (57,5 cm), sai khác có ý nghĩa so với đối chứng K2 (54,5 cm) và K1 (54,3 cm).
  • Số lá và số nhánh: Liều lượng kali không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lá ở hầu hết các giai đoạn (ở 65 NSG dao động từ 13,6 đến 14,3 lá/cây, $F = 1,4^{ns}$) và không ảnh hưởng đến số nhánh cấp 1 tại thời điểm thu hoạch (dao động 3,6 đến 4,0 nhánh/cây, $F = 1,1^{ns}$). Số nhánh chủ yếu do đặc tính di truyền của giống ĐT 51 chi phối.
  • Tích lũy chất tươi và chất khô: Khối lượng chất tươi và khô của cây tại thời điểm hoa nở rộ (chất tươi 117,1 - 121,3 g/cây; chất khô 9,1 - 9,3 g/cây) và tại thời điểm thu hoạch không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức bón kali.
  • Sự hình thành nốt sần tại 50 NSG: Tổng số nốt sần và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu đạt cao nhất ở nghiệm thức đối chứng K2 (33,1 nốt/cây; 86,5%), tiếp đến là K3 (28,8 nốt/cây; 84,6%), và thấp nhất ở K1 (27,0 nốt/cây; 81,7%). Khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$).

2. Tình hình sâu bệnh hại

  • Tỷ lệ hại của sâu đục quả (Etiella zinckenella) dao động từ 2,1 đến 2,3% ($F = 0,2^{ns}$) và tỷ lệ bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) dao động từ 2,0 đến 2,2% ($F = 0,8^{ns}$), khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức.
  • Mật độ sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) có sự khác biệt thống kê ($p < 0,05$), cao nhất ở nghiệm thức bón kali cao K5 (2,6 con/$\text{m}^2$) và K3 (2,5 con/$\text{m}^2$), thấp nhất ở đối chứng K2 (2,0 con/$\text{m}^2$).

3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt

  • Số quả/cây và số quả chắc/cây: Nghiệm thức K3 (100 kg $K_2O$/ha) đạt cao nhất với 40,0 quả/cây và 39,5 quả chắc/cây. Nghiệm thức K5 (140 kg $K_2O$/ha) có số quả và quả chắc thấp nhất (25,2 quả/cây và 22,7 quả chắc/cây).
  • Khối lượng 100 hạt: Tăng dần từ K1 (17,1 g) lên cao nhất ở K3 (18,3 g), sau đó giảm mạnh ở K4 (16,1 g) và K5 (16,0 g).
  • Năng suất hạt: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu đạt cao nhất ở K3 (2,1 tấn/ha lý thuyết và 1,5 tấn/ha thực thu), tương đương với đối chứng K2 (1,8 tấn/ha lý thuyết và 1,2 tấn/ha thực thu) nhưng sai khác vượt trội có ý nghĩa so với K1, K4 và K5 (năng suất thực thu chỉ đạt 0,8 - 1,0 tấn/ha). Bón kali quá cao (140 kg $K_2O$/ha) làm giảm năng suất thực thu xuống còn 0,8 tấn/ha.

4. Hiệu quả kinh tế

  • Nghiệm thức K3 (100 kg $K_2O$/ha) mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với tổng thu 43,19 triệu đồng/ha, tổng chi 27,04 triệu đồng/ha, lợi nhuận thuần đạt 16,15 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận đạt 0,60 lần.
  • Ngược lại, việc tăng lượng kali lên mức 120 - 140 kg $K_2O$/ha làm chi phí phân bón tăng trong khi năng suất giảm, dẫn đến lợi nhuận của K4 chỉ đạt 0,17 triệu đồng/ha (tỷ suất 0,06 lần) và K5 bị thua lỗ -0,03 triệu đồng/ha (tỷ suất -0,01 lần).

Kết quả và đóng góp

Tổng hợp các chỉ tiêu nông học và hiệu quả kinh tế

Bảng tổng hợp số liệu thực nghiệm giữa 5 nghiệm thức bón phân kali đối với giống đậu nành ĐT 51 trong vụ Xuân Hè 2023:

Chỉ tiêu theo dõi K1 (60 kg $K_2O$) K2 (80 kg $K_2O$ - ĐC) K3 (100 kg $K_2O$) K4 (120 kg $K_2O$) K5 (140 kg $K_2O$) Mức ý nghĩa ($F$)
Chiều cao cây 65 NSG (cm) $54,3^b$ $54,5^b$ $57,5^a$ $60,2^a$ $60,9^a$ *
Số lá 65 NSG (lá/cây) 14,2 13,9 13,6 14,3 14,3 ns
Số nhánh tại thu hoạch (nhánh/cây) 3,6 3,6 3,7 4,0 3,8 ns
Tổng số nốt sần 50 NSG (nốt/cây) $27,0^c$ $33,1^a$ $28,8^b$ $27,7^{bc}$ $27,1^c$ *
Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu (%) $81,7^c$ $86,5^a$ $84,6^{ab}$ $83,5^{bc}$ $84,4^{ab}$ *
Sâu đục quả (%) 2,3 2,1 2,2 2,1 2,2 ns
Bệnh lở cổ rễ (%) 2,2 2,3 2,1 2,0 2,0 ns
Sâu xanh da láng ($\text{con/m}^2$) $2,1^b$ $2,0^b$ $2,5^a$ $2,3^{ab}$ $2,6^a$ *
Tổng số quả (quả/cây) $33,4^b$ $38,3^a$ $40,0^a$ $28,0^c$ $25,2^c$ *
Số quả chắc (quả/cây) $25,5^b$ $35,8^a$ $39,5^a$ $26,4^b$ $22,7^c$ *
Khối lượng 100 hạt (g) $17,1^b$ $17,7^a$ $18,3^a$ $16,1^c$ $16,0^c$ *
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) $1,6^b$ $1,8^a$ $2,1^a$ $1,5^b$ $1,4^c$ *
Năng suất thực thu (tấn/ha) $1,0^b$ $1,2^a$ $1,5^a$ $1,0^b$ $0,8^c$ *
Tổng thu (triệu đồng/ha) 36,51 38,15 43,19 29,44 28,09 -
Tổng chi phí (triệu đồng/ha) 25,72 26,44 27,04 27,12 28,38 -
Lợi nhuận (triệu đồng/ha) 10,79 11,71 16,15 0,17 -0,03 -
Tỷ suất lợi nhuận (lần) 0,42 0,44 0,60 0,06 -0,01 -

*(Ghi chú: Trong cùng một hàng, các số có cùng chữ cái đi kèm thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức $\alpha = 0,05$; ns: khác biệt không có ý nghĩa; : khác biệt có ý nghĩa ở mức $\alpha = 0,05$).

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả

  • Liều lượng bón khuyến nghị: Áp dụng mức bón phân kali tối ưu là 100 kg $K_2O$/ha cho giống đậu nành ĐT 51 canh tác trong vụ Xuân Hè trên vùng đất xám Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh hoặc các khu vực có điều kiện đất đai tương tự.
  • Quy trình phân bón đồng bộ: Bón 100 kg $K_2O$/ha kết hợp chặt chẽ trên nền phân bón chuẩn gồm: 5 tấn phân bò ủ hoai + 200 kg CaO (vôi bột) + 30 kg N + 90 kg $P_2O_5$/ha; duy trì mật độ gieo trồng khoảng cách 30 cm × 10 cm (1 hạt/hốc).

Đóng góp thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm về liều lượng phân kali trên chân đất xám Đông Nam Bộ. Kết quả chứng minh mối quan hệ phi tuyến giữa lượng phân kali và năng suất đậu nành: việc tăng kali từ 60 lên 100 kg $K_2O$/ha giúp cải thiện rõ rệt số quả chắc, khối lượng hạt và năng suất; tuy nhiên, bón vượt ngưỡng (120 - 140 kg $K_2O$/ha) gây suy giảm năng suất nghiêm trọng và dẫn đến thua lỗ kinh tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Theo công bố của tác giả trong phần giới hạn đề tài, do hạn chế về nguồn kinh phí và quỹ thời gian, nghiên cứu chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu chất lượng hóa sinh trong hạt (hàm lượng protein tổng số, hàm lượng chất béo thô, thành phần khoáng và hợp chất isoflavone).
  • Thí nghiệm mới được bố trí đơn vụ (vụ Xuân Hè 2023) tại một địa điểm duy nhất (Trại thực nghiệm Khoa Nông học, TP. Thủ Đức).

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng khảo nghiệm công thức bón kali 100 kg $K_2O$/ha qua các vụ mùa khác nhau (vụ Thu Đông, vụ Đông Xuân) để đánh giá độ ổn định năng suất dưới tác động của biến thiên thời tiết.
  • Bổ sung các chỉ tiêu phân tích hóa sinh hạt đậu nành sau thu hoạch nhằm làm rõ tác động của phân kali đến chất lượng thương phẩm và giá trị dinh dưỡng.
  • Thử nghiệm kết hợp liều lượng kali tối ưu với các nghiệm thức mật độ gieo trồng hoặc các dạng phân bón lá chứa kali trong giai đoạn nuôi hạt.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Thổ nhưỡng và Dinh dưỡng Cây trồng làm tài liệu tham khảo trong thiết kế thí nghiệm đồng ruộng đơn yếu tố.
    • Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại vùng Đông Nam Bộ trong việc xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cây họ đậu trên đất xám.
    • Người sản xuất đậu nành áp dụng trực tiếp công thức bón phân cân đối nhằm gia tăng lợi nhuận và tránh lãng phí chi phí đầu vào.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) và kỹ thuật theo dõi các chỉ tiêu nông học đậu nành chuẩn hóa theo QCVN 01-58:2011/BNNPTNT.
    • Phương pháp tính toán nốt sần hữu hiệu và quy đổi năng suất hạt khô về độ ẩm thương phẩm tiêu chuẩn 12%.
    • Phương pháp hạch toán kinh tế nông hộ chi tiết giữa chi phí đầu vào và doanh thu đầu ra trong sản xuất nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Thí nghiệm sử dụng giống đậu nành nào và có đặc tính nông học cơ bản gì?

Thí nghiệm sử dụng giống đậu nành ĐT 51, được Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) chọn lọc từ tổ hợp lai LS 17 × DT 2001. Giống có thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày, hoa màu tím, quả chín màu vàng, hạt vàng có rốn nâu đậm, chiều cao cây 45 - 55 cm, phân cành hơn 2 cành/cây, khối lượng 100 hạt từ 17,5 - 20,0 g, năng suất đạt 2,0 - 2,9 tấn/ha tùy điều kiện thâm canh.

2. Nền phân bón chung và công thức phân bổ liều lượng bón trong thí nghiệm được thiết lập như thế nào?

Nền phân bón chung cho tất cả các nghiệm thức trên 1 ha gồm: 5 tấn phân bò ủ hoai + 200 kg CaO (tương đương 500 kg vôi bột) + 30 kg N (tương đương 64,8 kg urea) + 90 kg $P_2O_5$ (tương đương 563 kg phân lân nung chảy Văn Điển). Về phương pháp bón: Bón lót toàn bộ phân bò, phân lân, vôi kết hợp với 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali; bón thúc 1 lần khi cây có 2 - 3 lá thật với 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại theo từng nghiệm thức.

3. Đất xám tại khu vực thí nghiệm có đặc điểm lý hóa tính ra sao và cần lưu ý gì khi canh tác?

Theo kết quả phân tích của Bộ môn Khoa học Đất - Phân bón (Khoa Nông học, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM), đất có sa cấu cát pha thịt (82% cát, 10% thịt, 8% sét), phản ứng đất chua nhiều ($\text{pH}_{\text{H}2\text{O}} = 5,1$; $\text{pH}{\text{KCl}} = 4,9$), hàm lượng chất hữu cơ (1,21%), đạm tổng số (0,05%) và lân dễ tiêu (13,1 mg/100g) đều ở mức rất thấp. Do đó, canh tác trên đất này bắt buộc phải bón vôi điều chỉnh độ chua và bổ sung phân hữu cơ kết hợp phân khoáng tính kiềm để tăng hiệu quả sử dụng phân bón.

4. Tại sao mức bón 100 kg $K_2O$/ha mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, trong khi mức 140 kg $K_2O$/ha lại bị thua lỗ?

Nghiệm thức bón 100 kg $K_2O$/ha cho các yếu tố cấu thành năng suất tối ưu nhất (40,0 quả/cây, 39,5 quả chắc/cây, khối lượng 100 hạt 18,3 g), dẫn đến năng suất thực thu đạt cao nhất (1,5 tấn/ha), tổng thu đạt 43,19 triệu đồng/ha, trừ tổng chi 27,04 triệu đồng/ha cho lợi nhuận 16,15 triệu đồng/ha (tỷ suất lợi nhuận 0,60 lần). Khi tăng liều lượng lên 140 kg $K_2O$/ha, cây bị mất cân đối dinh dưỡng khiến số quả chắc giảm mạnh (còn 22,7 quả/cây), khối lượng 100 hạt giảm còn 16,0 g, năng suất thực thu tụt xuống 0,8 tấn/ha. Năng suất giảm kết hợp chi phí phân bón tăng (tổng chi 28,38 triệu đồng/ha) khiến nghiệm thức này bị lỗ -0,03 triệu đồng/ha.

5. Liều lượng phân kali ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của nốt sần và mật độ sâu xanh da láng?

Tại thời điểm 50 NSG, nghiệm thức đối chứng bón 80 kg $K_2O$/ha đạt tổng số nốt sần cao nhất (33,1 nốt/cây) và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu cao nhất (86,5%), tiếp theo là mức 100 kg $K_2O$/ha (28,8 nốt/cây và 84,6%), bón 60 kg $K_2O$/ha có số nốt sần thấp nhất (27,0 nốt/cây). Đối với sâu bệnh, liều lượng kali không ảnh hưởng đến sâu đục quả và bệnh lở cổ rễ, nhưng mật độ sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) có xu hướng tăng cao ở các nghiệm thức bón nhiều kali, cao nhất ở mức 140 kg $K_2O$/ha (2,6 con/$\text{m}^2$) và 100 kg $K_2O$/ha (2,5 con/$\text{m}^2$), so với 2,0 con/$\text{m}^2$ ở mức 80 kg $K_2O$/ha.


Kết luận

Khóa luận đã xác định được lượng phân bón kali tối ưu cho giống đậu nành ĐT 51 trong vụ Xuân Hè 2023 trên vùng đất xám Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh là 100 kg $K_2O$/ha trên nền 5 tấn phân bò ủ hoai + 200 kg CaO + 30 kg N + 90 kg $P_2O_5$/ha với khoảng cách trồng 30 cm × 10 cm. Mức bón này giúp cây đạt năng suất thực thu cao nhất (1,5 tấn/ha), lợi nhuận thuần 16,15 triệu đồng/ha và tỷ suất lợi nhuận 0,60 lần. Kết quả nghiên cứu đồng thời chứng minh việc bón phân kali vượt ngưỡng (120 - 140 kg $K_2O$/ha) làm giảm số quả chắc, giảm trọng lượng hạt, suy giảm năng suất thực thu và gây thua lỗ kinh tế.