Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây đậu nành 1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây đậu nành Cây đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) có nguồn gốc từ Đông Bac A (Trung Quốc), được biết đến từ 5. Đậu nành được g1eo trồng từ 1.100 năm trước công nguyên, từ Bắc Trung Quốc đậu nành đã phát triển sang Nhật Bản, Hàn Quốc, xuống miền Đông và Nam Trung Quốc, các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam ( Phạm Thị Bảo Chung và cs, 2012). Ở Châu Âu, đến thế ki XVII đậu nành mới được du nhập, sau đó được đưa đến các nước khác như Anh (1790), Ý (1840), Úc, Đức, Ba Lan (1901) (Mai Quang Vinh, 2012) và đến năm 1954 mới được trồng tại Mỹ (Ngô Thế Dần và cs, 1999). Do đậu nành có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao nên nhanh chóng được phân bố rộng rãi (Trần Van Lot, 2010).
Trên thế giới có hơn 100 nước trồng đậu nành, phân bố ở khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở Châu A và Châu Mỹ (Phạm Văn Thiéu, 2002). Đậu nành phân bồ rộng, trải dài từ 48° Bắc đến 30° Nam.2 Phan loại Theo Trần Văn Lợt (2010), phân loại các loài dựa vào 2 cơ sở là: Hình thái thực vật và chu kỳ sinh trưởng. Phân loại theo hình thái thực thái thực vật học: Đậu nành hoang dai (Glycine usuiensis). Phân bố thường thay ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên.
Đặc điểm: Thân cao 3 - 4m, dạng thân leo, cành nhỏ và thường xoắn lại, thân chính và cảnh nhỏ khó phân biệt, sinh trưởng kém. Thời gian sinh trưởng rất dài, có thể kéo dài đến 200 ngày. Phản ứng của quang kỳ thuộc ngày ngắn. Lá nhỏ hẹp, lớp lông tơ ép sát mặt lá.
Hoa nhỏ, màu tím. Trái nhỏ, đẹp. Mỗi trái chứa 2 - 3 hạt, khi chín dễ nứt ngoài đồng. Hạt nhỏ, màu đen, lượng protein cao, trọng lượng 2 - 3 g/100 hạt.
Thường làm thức ăn gia súc. Đậu nành nửa hoang dai (Glycine gracilis). Phân bỗ ở dọc lưu vực sông Trường Giang và Dương Tử Giang (Trung Quốc). Đặc điểm: Thân cao trên dưới 1 m, dang thân đứng hoặc thân leo.
Kha năng cho trái hữu hạn hoặc vô hạn. Hoa nhỏ, mau tím. Kích thước trái va hạt trung bình. Hạt có màu nâu, đen, vàng, trọng lượng 5 - 6 g/100 hạt.
Đậu nành trồng (Glycine max L. Dạng thân đứng, phân biệt rõ thân cành. Lá to, phiến lá dày. Khả năng cho trái hữu hạn.
Kích thước trái và hat to. Hat có màu vàng, đen, nâu, trọng lượng 7 - 20 g/100 hạt. Phân loại dựa vào chu kỳ sinh trưởng: Căn cứ vào thời gian chín của cây đậu nành mà Pipper và Mosse đã chia đậu nành làm 6 nhóm: + Chín rất sớm: 75 - 90 ngày, chín sớm: > 90 - 100 ngày. + Chín trung bình: > 100 - 110 ngày, muộn trung bình: > 110 - 129 ngày.
+ Chín muộn: 130 - 140 ngày, rất muộn: > 140 - 160 ngày.3 Đặc tính thực vật học Cây đậu nành có tên khoa học là Glycine max (L.) Merrill sau một hội nghị đậu nành trên thé giới (1917) (Trần Van Lot, 2010). Cây đậu nành thuộc chi Glycine, họ đậu Leguminosae, họ phụ cánh bướm Papilionoideae và bộ Phaseoleae (Trần Văn Điền, 2007). Rễ: Rễ đậu nành gồm có rễ chính và nhiều rễ phụ. Rễ chính có thể ăn sâu 30 - 50 cm và có thé trên 1 m.
Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ. rễ phụ cấp 2, cấp 3 tập trung nhiều ở tang đất 7 - 8 cm rộng 30 - 40 cm”. Rễ phát triển nhanh hon thân trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (Nguyễn Danh Đông, 1982). Điều quan trọng là ở bộ rễ đậu nành có sự hình thành nốt san.
Đó là các u bướu nhỏ bám vào các rễ. Nét san là kết quả cộng sinh của một số loài vi sinh vật có tên khoa học là Rhizobium Japonicum với rễ cây đậu nành. Trong một nốt san có khoảng 3 - 4 tỷ vi sinh vật, mà ta chỉ có thé nhìn thấy chúng qua kính hiển vi phóng đại 600 - 4 1000 lần (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Theo Phạm Văn Thiéu (2002), nốt san có màu hồng đỏ là những nốt có khả năng cố định đạm cao, sắc tố hồng do sự có mặt của leghaemogloin.
Thân: Thân cây dau nành dang thân thảo, hình tròn, có nhiều lông. Dang thân cây bụi mọc thắng, ít phân cành. Thân cây màu tím thường cho hoa màu tím, thân cây màu xanh thường cho hoa màu trắng. Thân có trung bình 14 - 15 lóng, chiều cao 0,6 - 1,2 m, các long phía dưới thường ngắn, long phía trên dai.
Lá: Gồm 3 loại lá mầm (mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp xúc vol ánh sáng thì lá chuyên sang màu xanh), lá đơn (xuất hiện sau khi cây mọc từ 2 - 3 ngày và mọc phía tên lá mam) và lá kép (mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4 - 5 lá chét). Lá kép mọc so le, lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vảng nâu. Số lá nhiều to khỏe nhất vào thời kỳ đang ra hoa rộ. Hoa: Nhỏ, thuộc họ hoa cánh bướm, không mùi, mọc ở nách lá, đầu ngọn thân, cành và thường mọc thành chùm.
Hoa đậu nảnh ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng 30% có khi lên tới 80%. Hoa đậu nành thường thụ phan trước khi hoa nở và là cây tự thụ phan, tỷ lệ giao phan rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1% (Ngô Thế Dân va cs, 1999). Hoa thường nở 2 ngày, sau 4 - 5 ngày sẽ hình thành qua non (Trần Văn Lot, 2010). Quả: Số quả biến động từ 2 đến 20 quả trên một chùm hoa và có thé đạt tới 400 quả trên một cây.
Một quả chứa từ 1 đến 5 hạt, nhưng hầu hết các giống quả thường từ 2 - 3 hạt. Quả đậu nành thăng hoạc hơi cong, có chiều dài từ 2 đến 7 em hoặc hơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trang tới vàng sam, nâu hoặc đen. Hạt lớn nhanh trong vòng 30-35 ngày sau khi hình thành quả.
Hạt: Bao gồm phôi (chiếm 2%), 2 lá điệp tử (90%) và vỏ hạt (8%). Hạt có hình cầu hay bầu dục, phẳng.000 hạt thay đổi từ 20 g - 400 g tùy giống, trung bình từ 100 g - 200 g. Màu sắc, hình dạng hạt mỗi giống có đặc trưng riêng. Giống có màu vàng có giá trị thương phẩm cao.4 Nhu cầu sinh thái và dinh dưỡng 1.1 Nhu cầu sinh thái Nhiệt độ: Tổng tích ôn tối thiểu cần phải đạt 2.
Do đó đậu nành có thể trồng ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Giai đoạn nảy mam thích hợp: 20 - 30°C. Giai đoạn cây con: 24 - 30°C. Giai đoạn ra hoa kết trái: 24 - 34°C và chín là 20 - 25°C.
Ánh sáng: Các giống đậu nành trồng hiện nay đều có phan ứng với quang kỳ ngảy ngắn trừ một số giống đậu nành Canada có phản ứng với quang kỳ ngày dải. Nên chọn những vùng có độ dài ngày từ 12 - 14 giờ (quang kỳ ngày ngắn) để trồng đậu nành. Cây cần ánh sáng nhưng không cần ánh sáng gắt, yêu cầu phải có 5 - 6 giờ nắng mỗi ngày, nhất là ruộng khi ra hoa kết trái. Nước và độ âm: Lượng mưa tối thiểu để trồng dược đậu nành là 400 mm tốt nhất lá 700 mm.
Đề sản xuất 1 g chất khô cần 408 - 444 g nước. Đậu nành có 2 thời kỳ cân nước cực kỳ đó là thời kỳ nảy mâm và ra hoa kết trái. Thời kỳ nảy mầm yêu cầu độ âm đất: 75 - 80% độ âm bão hòa. Thời kỳ ra hoa kết trái: 70 - 80% độ âm bão hòa.
Thời kỳ cây con: cần âm độ 50 - 60% độ âm bão hoà. Thời kỳ chín: Cần âm độ đất 50 - 60% độ âm bão hoà. Trước khi thu hoạch 3 - 5 ngày nên dé ruộng khô kiệt nước. Đất: Có thể trồng trên nhiều loại đất (đất đỏ bazan, đất xám, đất phù sa, phù sa ven sông).
Loại đất thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất thoát nước tốt, sạch cỏ dai. Độ pH từ 5,2 - 6,5 là phù hợp nhất cho đậu nành phát triển.2 Yêu cầu về dinh dưỡng Đậu nành là cây lay đi chất dinh dưỡng không nhiều. Dam: Cây có kha năng thông qua vi khuẩn cộng sinh ở rễ có định được N từ không khí. Qua đó, nó có thé đáp ứng 60 - 70% lượng đạm cây cần.
Cho nên đậu nành không có nhu cầu cao đối với bón đạm. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhạt , ra 6 hoa ít, hoa quả non bị rụng. Thừa đạm, cành lá phát triển rườm rà, kéo đài thời gian sinh trưởng, ra hoa chậm, quả to song hạt không mây hoặc lép nhiều. Tùy theo giống, đất dai, thời vụ và phương pháp gieo trồng, bình quân 1 ha đậu nành cần bón thêm 50 - 80 kg phân đạm ure (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Lân: Lân là yếu tố dinh dưỡng cần cung cấp nhiều hơn đạm. Lân có tác dụng xúc tién sự hình thành phát triển của bộ rễ, hình thành nốt san va các cơ quan sinh sản: Hoa, quả, hạt, giảm rụng nụ hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc. Thiếu lân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên, có mau xanh tối, mặt lá có chấm nâu. Tùy theo giống, đất đai, thời vụ và phương thức gieo trồng, bình quân 1 ha đậu nành cần bón thêm từ 250 - 300 kg phân lân supe (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Kali: Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đỗ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi (chịu úng, chịu hạn, chịu rét). Kali làm tăng pham chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây. Cây cần kali trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nhưng cần nhất thời kỳ ra hoa. Lượng kali bón cho đậu nành thích hợp là 40 kg KO (Ngô Thế Dân và es, 1999).
Canxi: Trên nên đất chua, vôi là yếu tố quan trọng giúp cho việc sản xuất đậu nành được thành công. Bon vôi giúp giảm nồng độ của các chất đọc chang hạn như: AI, Mn, cung cấp dinh dưỡng cho cây: Ca, Mg, Mo, cải thiện và tăng cường sự hình thành nốt san và cô định đạm. Ở đất chua bón amoni sunphat và KCI mà không bón vôi nốt san kém phát triển. Nồng độ của Ca trong dung dịch 0,05 mg/L là phù hợp cho rễ sinh trưởng ở đất có pH= 5,6 (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Các nguyên tố vi lượng: Là các nguyên tố cây cần không lớn, nhưng không thé thiếu đối với đậu nành.