Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây lan Thạch hộc tía 1.1 Nguồn gốc và phân bố Thạch hộc tía hay còn gọi là Thạch hộc rỉ sắt, hắc tiết thảo, thiết bì lan, lí thụ thảo là cây thảo lâu năm thuộc Chi Thạch hộc — Họ Lan, thường sinh trưởng ở các vách đá, khe đá, hoặc phụ sinh trên cây cổ thu, ở vùng cao núi đá, nhiệt đới, Á nhiệt đới, độ cao từ 800 — 1000 m (Chu Chu va ctv, 2014). Ở Việt Nam họ Lan có nhiều loài, phân bố ở các vùng núi từ Bac vào Nam, nhiều loài đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng, một số loài nằm trong danh mục Sách đỏ Việt Nam, trong đó có loài lan Thạch hộc tía, phân bố ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam đang được nghiên cứu nhân giống và nuôi trồng dé làm thuốc (Chu Chu và ctv, 2014).2 Phan loai hoc Cây lan Thạch hộc tia thuộc: ngành Magnoliophyta (ngành Ngọc Lan), lớp Magnoliopsida (lớp Ngọc Lan), Bộ Asparagales (bộ Măng Tây), họ Orchidaceae (họ Lan), chi Dedrobium (chi Lan hoàng thảo) và loài Dendrobium officinale Kimura et Migo (Lê Nguyễn Hoàng Kim Ngân, 2018). Chi Dendrobium, bao gồm 1100 loài hoặc nhiều hơn nữa trên thế giới, là một nhóm lớn nhất trong họ Orchidaceae. Có 76 loài thuộc chỉ Dendrobium ở Trung Quốc, gồm 74 loài và 2 loại, trong đó thân cây được say khô của D.
officinale được liệt kê trong Dược điển Trung Hoa dưới tên Dendrobii Officinalis Caulis.3 Đặc điểm thực vật học Thạch hộc thiết bì hay Thạch hộc tía là cây thảo phụ sinh lâu năm, thân mọng nước, sống bám vào cây gỗ lớn rừng nguyên sinh có độ âm cao hoặc ở vách đá âm ướt, ưa khí hậu 4m và ram mát (Chu Chu và ctv, 2014). Rễ mọc ra từ các mau trên thân. Số lượng và khích thước rễ khác nhau cho từng cá thể. Số lượng rễ trong khoảng từ 2 — 9 (Chu Chu và ctv, 2014).
Thân cây mọc thang đứng cao độ 0,3 - 0,6 m, than hoi det, màu tím, phía trên hơi dày hơn, có đốt dài 2,5 - 3 cm, có vân dọc. Lá mọc ngay trên đỉnh bọng, so le và tạo thành dây đều 2 bên thân, hình thuôn dài, phía cuống tù, gần như không cuốn, ở đầu hơi cuộn hình nón, dai 12 cm, rộng 2 — 3 em trên có năm gân dọc (Nguyễn Thanh Thuận, 2015). Lan Thạch hộc có cụm hoa mọc thành chùm 2 - 4 hoa trên những cuống đài 2 - 3 em. Hoa rất dep, to, màu héng hay diém hồng.
Cánh môi hình bầu dục nhọn, dài 4 - 5 cm, rộng 3 cm cuộn thành hình phéu trong hoa, ở nơi họng hoa điểm mau tia. Mùa hoa nở rơi vào khoảng tháng 2 đến tháng 4 hàng năm (Nguyễn Thanh Thuận, 2015).4 Giá trị cây lan Thạch hộc tía 1.1 Giá trị dược liệu Nghiên cứu của Liu và ctv (2011) cho thấy khi cho chuột uống dịch chiết và các Polysaccharide thô của D. officinale Kimura et Migo giúp cải thiện và tang cường đáng kể khả năng miễn dịch tế bao và miễn dich không đặc hiệu ở chuột, tăng sản sinh IFN — gamma ở lách. Nghiên cứu tác dụng của D.
officinale Kimura et Migo trên hệ tiêu hoá cho thay một polysaccharide (Dendronan) có tác dụng tốt, giúp điều hoà hệ vi sinh đường ruột, tăng hàm lượng các acid béo chuỗi ngắn SCFA, giảm pH ruột kết và thời gian hình thành phân (Hanxiao Tang và ctv, 2017).2 Giá trị kinh tế Thạch hộc chế biến thành các sản phâm được xuất khẩu vào những năm 80 thé kỷ trước đạt mức 3. Ở Đài Loan giá bán từ 1. Giá bán hảo hạng cực kỳ đắt, ở thị trường Trung Quốc khoảng 30 đến 60 triệu VND/kg. Giá một cây Thạch hộc tươi ba tuổi có giá 25.2 Phương pháp nhân giống Phương pháp nhân giống vô tính lan Thạch hộc tía bằng phương pháp giâm hom, tách bụi hoặc nhân giống in vitro có chứa nhiều ưu điểm.
Nhân giống bằng phương pháp vô tính giúp tạo ra số lượng lớn cây trồng trong một thời gian ngắn, giữ được nguyên bản các tính trạng tốt của cây mẹ. Do đó, nhân giống vô tính bằng phương pháp nhân giống lan Thạch hộc tía được áp dụng nhiều trong thực tiễn sản xuất. Thời vụ thuận lợi cho việc giâm cành lan Thạch hộc tía là vào vụ xuân, hè khoảng tháng 5 - 6, chọn cây 3 tuôi, lấy đoạn thân tròn, khỏe, cắt thành đoạn, mỗi đoạn 4 - 5 mắt, đài khoảng 15 - 20 cm, cấy vào vào bầu chứa giá thê có khả năng thoát nước tốt, chờ đến khi có chồi nách, có rễ khí sinh mọc ra, có thể đem cấy. Khi chọn vật liệu nên sử dụng đoạn thân phần trên, tỷ lệ sống cao, chồi nhiều, mọc nhanh (Đặng Văn Đông, 2004).3 Cơ sở sinh lý của giâm hom Bản chất sự ra rễ của hom giâm là một quá trình biến đổi hết sức phức tạp, là sự thay đồi tương quan về sinh trưởng và phát triển.
Do bản chat hom giâm là một bộ phận không đầy đủ về cơ quan sinh dưỡng, đặc biệt là rễ vì thé các nhân tố nội sinh và ngoại sinh đóng vai trò tác động quyết định tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm (Trần Trọng Nghĩa, 2017).1 Một số yếu tố nội sinh quan trọng ánh hưởng đến quá trình giâm hom 1.1 Đặc tính loài Đặc tính loài là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định khả năng ra rễ của hom giâm. Theo Trần Trọng Nghĩa (2007), căn cứ vào tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ của hom giâm mà chia ra làm 3 nhóm: + Nhóm dễ ra rễ ít cần tác động hỗ trợ của ngoại cảnh, kích thích sinh trưởng vẫn đạt tỷ lệ sống và ra rễ trên 90%. + Nhóm ra rễ trung bình cần có tác động hỗ trợ căn bản, đơn giản của ngoại cảnh và kích thích sinh trưởng trong thời gian có hạn từ 7 đến 15 ngày thì có thê đạt tỷ lệ sống và ra rễ từ 70 — 80%. + Nhóm khó ra rễ yêu cầu thiết lập không gian ngoại cảnh thật hợp lý, thời gian và nồng độ xử lý kích thích sinh trưởng được xác lập rõ ràng cùng với mùa lấy hom mới có khả năng đạt tỷ lệ sống và ra rễ từ 30 — 70%.2 Tuổi của hom và vi trí lấy hom Tỷ lệ sống và ra rễ của hom phụ thuộc rất nhiều vào tudi cây mẹ.
Hom lay từ cây ít tuổi có tỷ lệ ra rễ cao hơn cây nhiều tuôi, thực chất van dé trên có liên quan đến sự hóa già của hom dẫn đến giảm khả năng tái sinh. Ngoài ra, hom được lấy từ những cành khác nhau trên cùng một vi trí cành tiêp xúc trực tiép với ánh sáng và cành trong bóng râm sẽ dẫn đến sự ra rễ khác nhau (Trần Trọng Nghĩa, 2007).3 Sự tôn tại lá trên hom Lá trên hom là yếu tô ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ và sức mạnh của rễ hom, quá trình mat nước của lá là động lực kéo nước thông qua mach dẫn va mao quản dong thời tăng cường dần quang hợp dé tái sinh và nuôi dưỡng rễ hom (Trần Trọng Nghia, 2007).4 Trạng thái kích thích hom và tương quan kích thích của hom Ở thực vật, khi ngoại cảnh thuận lợi cho sinh trưởng của cây, hom được lay vao thời điểm này sé có tỷ lệ ra rễ cao do tích lũy nhiều dinh dung và kích thích sinh trưởng. Đồng thời biéu hiện tương quan kích thích cũng mạnh mẽ hơn và sớm hơn so với chu kỳ ngoại cảnh không thuận lợi. Ở mỗi loài cây khác nhau.
trạng thái khác kích thích này cũng thay đổi khác nhau (Trần Trọng Nghia, 2007).2 Một số nhân tố ngoại sinh quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giâm hom 1.1 Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể Độ am không khí cao sẽ hạn chế sự bốc thoát hơi nước của lá hom dẫn đến tế bào khí không lá hoạt động tích cực hơn từ đó tăng tuổi thọ của 14 hom, giữ cho hom không bị mắt nước, đồng thời cung cấp nước cho quang hợp trong suốt thời kỳ hình thành rễ. Hom chưa ra rễ đòi hỏi độ âm môi trường cao nhất. Nhiệt độ ảnh hưởng đến độ ẩm xung quanh. Khi những rễ đầu tiên xuất hiện, độ âm có thể được hạ thấp, hom rễ có thể thích nghi với môi trường xung quanh tốt hơn (Trần Trọng Nghĩa, 2007).2 Ánh sáng Khu vực vườn ươm cần được điều tiết để hom không phải chịu ánh nang trực tiếp.
Dưới tác động trực tiếp của ánh sáng và nhiệt độ sẽ gây ra sự căng thắng cho hom làm ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom. Ánh sáng cần thiết cho quá trình quang hợp. Các hom chưa ra rễ không có khả năng quang hợp nhiều. Ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo có thể làm tăng nhiệt độ xung quanh do đó người trồng phải kiểm soát nhiệt độ của khu vực giâm nhằm tránh nhiệt độ cao từ nguồn ánh sáng làm ảnh hưởng đến quá trình ra rễ của hom giâm (Joel, 2009).3 Nước Theo Joel, 2009 cho rằng việc cung cấp nước là rất quan trọng khi hom giâm bắt đầu hình thành rễ.
Nếu giá thé khô, các tế bao trong hom giâm sé bị chết. Tế bào bị chết sẽ làm tăng nguy cơ bị thối đen tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm nâm bệnh. Tưới phun sương với thời gian ngắn, tưới nhiều lần, đảm bảo cây hom không bị khô. Tưới bằng tay khi cây con chưa ra rễ là không nên, vì mục đích tưới nước là để tạo tiêu vùng khí hậu.
Chế độ tưới là phải tỏa rộng, nhằm thay thế cho lượng nước bị bốc hơi. Điều này luôn đòi hỏi việc phải tưới điều chỉnh giữa lúc mặt trời mọc và lúc mặt trời lặn, từ nửa gid đến hàng giờ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu (Trần Trọng Nghia, 2007).4 Nhiệt độ Dé tránh thoát hơi nước quá mức, việc kiểm soát nhiệt độ là rất quan trọng. Nhiệt độ đất có ảnh hưởng rất trực tiếp đến tốc độ ra rễ. Nhiệt độ đất dao động trong khoảng 20 — 25°C là lý tưởng trong giai đoạn ra rễ ban đầu (Joel, 2009).4 Chat điều hòa sinh trưởng Auxin Nhóm Auxin có hai dạng: Dạng tự nhiên (phytohoocmon): Auxin (IAA, PAA) và dạng nhân tạo: (NAA, IBA, 2,4D, 2,4,5T) thuộc nhóm chất kích thích sinh trưởng (Nguyễn Kim Thanh, 2005).
Vai trò của auxin trong hình thành rễ: Cơ chế ra rễ: Auxin kích thích sự co giãn của tế bào, đặc biệt theo chiều ngang làm tế bào phình ra. Auxin kích thích sự tổng hợp các cấu trúc lên thành tế bào đặc biệt là các xenlulozo, pectin hemixenlulozo. Ngoài ra, auxin còn ảnh hưởng lên sự phan chia tế bảo.