Chương 1 Giới thiệu: Nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và trình bảy tổng quan về các nghiên cứu trước. Chương 2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Trình bày một số khái niệm về ngân hàng thương mại, chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại, một số lý luận liên quan đến nợ xấu và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Trình bày các phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu. 4 Chương 3 Phân tích ảnh hưởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: Trình bày tình hình chung của các NHTM ở Việt Nam, thực trạng về nợ xấu và hiệu quả kinh doanh của các NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Phân tích mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Chương 4 Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại: Nêu cơ sở đề xuất giải pháp, định hướng phát triển của các NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, mục tiêu quản lý nợ xấu của các NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đề xuất một số giải pháp từ kết quả nghiên cứu. Chương 5 Kết luận và kiến nghị: Kết luận chung về đề tài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và số liệu nghiên cứu, phương pháp phân tích đã hoàn thành các mục tiêu của đề tài nghiên cứu.
Qua nghiên cứu tác giả để xuất một số kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước để cải thiện sự ảnh hưởng nợ xấu và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân NHTM.6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Việt Hùng (2008) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam cho 32 NHTM ở Việt Nam, gồm cả 3 loại hình: NHTM nhà nước, NHTM Cổ phần và ngân hàng liên doanh. Số lượng các NHTM ở Việt Nam được xem xét, phân tích trong các mô hình định lượng gồm có: 5 NHTM Nhà nước, 23 NHTM cổ phần, 4 Ngân hàng Liên doanh và thời kỳ nghiên cứu là 5 năm từ năm 2001 đến năm 2005. Thông qua công trình nghiên cứu, tác giả cho thấy được bức tranh tổng quan về thực trạng hoạt động của các NHTM ở Việt Nam đồng thời cũng cung cấp các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình hình hoạt động còn nhiều bất cập, yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam. Bằng cách cách tiếp cận tham số (SFA) và phi tham số (DEA) tác giả đã đo lường hiệu quả và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam và thu được các kết quả như sau: các nhân tố như tỷ lệ nợ xấu, dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng dự nợ cho vay, tỷ lệ tổng chi phí trên tổng doanh thu, tỷ lệ thu từ lãi trên thu từ hoạt động có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động.
Trong khi đó, tỷ lệ thị phần, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. 5 Bên cạnh đó, Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012) tiến hành lựa chọn 05 NHTM cổ phần nội địa đại chúng có tổng tài sản lớn nhất tại thời điểm cuối năm 2011 tại các quốc gia Đông Nam Á bao gồm: Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2011, thu thập số liệu từ báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo thường niên của các ngân hàng để hình thành nên bộ dữ liệu về các yếu tố nội tại có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô bên ngoài như: thị phần, mức độ tập trung thị trường, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất thị trường, tỷ giá và sự phát triển của thị trường chứng khoán có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng được đánh giá qua số liệu thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB), IMF và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với kỹ thuật phân tích hồi quy bảng theo hướng tiếp cận những ảnh hưởng cố định (Fixed Effects) và những ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects) để ước lượng mô hình.
Kết quả thu được từ nghiên cứu cho thấy mô hình Fixed Effects phù hợp hơn trong việc giải thích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc ROA, ROE. Các yếu tố như: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tỷ lệ chi phí ngoài lãi/tổng thu nhập, thanh khoản, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động trung bình trên thị trường có tác động lên chỉ số ROA và ROE của các ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á. Trong đó, 2 yếu tố là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động trung bình trên thị trường có tác động ngược chiều và 3 yếu tố còn lại có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra sự hiệu quả nhờ quy mô đã không được tìm thấy trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chi phí đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) sử dụng số liệu thu thập của 39 NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2012 và mô hình hồi quy Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam thông qua hai chỉ tiêu đánh giá là ROE và ROA. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi phí hoạt động trên doanh thu có tương quan nghịch với ROA và ROE, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao, tuy nhiên điều này lại làm lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu giảm; tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận của NHTM càng cao; tỷ lệ nợ xấu càng cao thì hiệu quả hoạt động của các NHTM càng giảm; NHTM Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn so với các NHTM khác. Phạm Hữu Hồng Thái (2013) sử dụng số liệu thu thập của 34 NHTM cổ phần ở Việt Nam trong khoảng thời gian 2005 – 2012, phương pháp bình phương nhỏ nhất xây 6 dựng mô hình hồi quy để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu đặt ra.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ xấu và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có ý nghĩa và ảnh hưởng tiêu cực lên tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa rủi ro tín dụng hoàn toàn gây tác động tiêu cực đến lợi nhuận. Ngoài ra các yếu tố khác như quy mô ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, đòn bẩy tài chính và hiệu quả quản lý tài sản cũng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.2 Các nghiên cứu nước ngoài Gizaw và các cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhóm NHTM Ethiopia. Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ tám NHTM Ethiopia trong 10 năm từ 2003 đến 2012.
Biến phụ thuộc tác giả sử dụng để đo lường lợi nhuận là biến tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và các biến độc lập bao gồm: Tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR, tỷ lệ cho vay/vốn huy động. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động tích cực và tỷ lệ cho vay/vốn huy động không có ý nghĩa. Tương tự, Kaaya và Pastory (2013) đã tiến hành phân tích tác động của rủi ro tín dụng lên hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua việc hồi quy dữ liệu bảng có sử dụng biến kiểm soát là quy mô ngân hàng. Mẫu nghiên cứu được lấy trong giai đoạn 2005 đến 2011 ở Tanzania thông qua 11 NHTM.
Kết quả thu được cho thấy biến kiểm soát quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và mô hình hồi quy giải thích được 64% tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận. Điều này đồng nghĩa khi rủi ro tín dụng càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh càng thấp. Bên cạnh đó, Zulaiha Chua (2013) đã tìm hiểu các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động như thế nào đến khả năng sinh lợi của các Ngân hàng Hồi giáo Malaysia thông qua dữ liệu bảng thu thập từ số liệu của 6 Ngân hàng Hồi giáo Malaysia trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011. Biến phụ thuộc dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng là ROA.
Các biến độc lập tác giả tiến hành phân tích bao gồm: vốn, thanh khoản, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng GDP và lạm phát. Phương pháp hồi quy tác động cố định và phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên được sử dụng để phân tích. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng tất cả các biến số đặc điểm ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng. Đồng thời biến GDP giúp giải thích sự khác biệt trong các Ngân hàng Hồi giáo Malaysia trong khi lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng.
7 Oke và các cộng sự (2012) cũng đã một lần nữa thực hiện lại nghiên cứu này tại quốc gia Nigeria. Họ sử dụng dữ liệu thu thập từ 5 ngân hàng được chọn trong khoảng thời gian 11 năm (từ 2000 đến 2010). Và trong bài nghiên cứu này, ROA được sử dụng như một lý thuyết truyền thống để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh và ba biến đo lường rủi ro tín dụng là nợ xấu/tổng dư nợ, tổng dư nợ/tổng tiền gửi, và dự phòng rủi ro tín dụng/nợ quá hạn. Hồi quy dữ liệu bảng đã được dùng để ước lượng tác động của rủi ro tín dụng lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Kết quả cho thấy khi tỷ lệ nợ xấu và tổng dự nợ/tổng tiền gửi tăng 100% sẽ làm ROA giảm tương ứng là 6. Trong khi đó tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng lại tác động tích cực đến ROA: Khi tỷ lệ này tăng 100% sẽ làm ROA tăng 9.