chương 1 là trình bày bố cục của bài nghiên cứu bao gồm năm chương và trong 5 chương đó tác giả sẽ kết luận lại bài và đề xuất ra những giải pháp. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về nợ xấu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu Nợ xấu trong tiếng anh được gọi là “Non-performing loan” hay được thay thế bằng những từ ngữ khác như là “Bad debt” hoặc “Dounbtful debt”.
Theo Moh Benny Alexandri and Teguh Iman Santoso (2015) có quan điểm rằng nợ xấu sẽ tác động đến những yếu tố ngoại sinh và nội sinh. (2010) thì cho rằng nợ xấu chỉ là các khoản vay không còn thu hồi được vốn gốc và tiền lãi và có thời gian quá hạn là trên 90 ngày. Quan điểm khác về nợ xấu: Ở Việt Nam thì nợ xấu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không còn có thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán theo như hợp đồng tín dụng đã cam kết. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu.
Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN thì nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 được quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN. Theo quan điểm của ngân hàng Trung ương liên minh Châu Âu nợ xấu bao gồm: Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Là các khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để thực hiện việc trả nợ hoặc các khoản vay không có tài sản thế chấp. Nợ không thể thu hồi được, gồm: Là những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ. Những khoản nợ mà khách hàng đã bị chấm dứt hoạt động kinh doanh, tài sản bị thanh lý hoặc kinh doanh bị thua lỗ và số lượng tài sản còn lại không cỏ đủ để thanh toán nợ.
Theo quan điểm của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): Dù chưa đưa ra một khái niệm khái quát về nợ xấu, nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng. BCBS xác định khoản nợ được 9 coi là không có khả năng hoàn trả khi cả hai điều kiện xảy ra hoặc một trong hai: ngân hàng tình trạnh không còn khả năng trả nợ đầy đủ của người vay khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này thì nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ những khoản vay đã quá hạn 90 ngày và có dấuhiệu người đi vay không trả được nợ. Theo quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (2004): “Nợ xấu là một khoản vay không sinh lời khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày trở lên; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)”.
Đồng quan điểm với IMF thì AEG (2004) của Liên hợp quốc cho thấy rằng “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản nợ sẽ được thanh toán đầy đủ”. Tóm lại, từ các quan điểm khác nhau ở trên thì có thể hiểu nợ xấu là sự mất khả năng trả nợ của người đi vay với thời gian quá hạn thanh toán hơn 90 ngày. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ở Mỹ với quan điểm cho rằng: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp các hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính và những dịch vụ tài chính khác. Ở Pháp theo đạo luật ngân hàng năm 1941 cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
10 Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ghi: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các TCTD năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017: Ngân hàng thương mại là một loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả những hoạt động của ngân hàng và những hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, ngân hàng thương mại là doanh nghiệp được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại là đặt mục đích lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh tiền tệ làm ưu tiên.
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi các khách hàng, cấp tín dụng và bão lãnh và làm phương tiện thanh toán nhanh chóng. Hiện nay những NHTM Việt Nam được pháp luật cho phép hoạt động rộng rãi các nghiệp vụ như chiết khấu, thanh toán, cho vay, huy động vốn, bảo lãnh, nhận tiền gửi và một số nghiệp vụ khác được nhà nước cho phép. Phân loại nợ xấu Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm như sau: a) Nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn: đây là nhóm nợ ít rủi ro nhất và có khả năng thu hồi đẩy đủ cả gốc và lãi trong thời hạn quy định rất cao không xuất hiện những vấn đề khó khăn khi thực hiện thanh toán, thời gian quá hạn dành cho nhóm nợ này là dưới 10 ngày. Khi thực hiện vay tại ngân hàng thì tất cả các khoản cho vay tín dụng đều là nhóm nợ đủ tiêu chuẩn.
b) Nhóm 2 còn gọi là nhóm nợ chú ý: vì không thanh toán được nợ trước ngày nên nợ nhóm 1 đã chuyển thành nợ nhóm 2, nợ nhóm 2 cần được chú ý và có biện pháp thu hồi vốn kịp thời. Thời gian quá hạn là 90 ngày, nhóm nợ này xuất hiện khi chủ nợ quan sát tình hình trả nợ cũng như khoản vay suy giảm theo thời gian. 11 c) Nợ dưới tiêu chuẩn cũng chính là nợ nhóm 3: đây là nhóm nợ bắt đầu xuất hiện hiện tượng nợ xấu thời gian đáo hạn dành cho nhóm nợ này là từ 91 đến 180 ngày. Gây tổn thất một phần về gốc và lãi cho chủ nợ, đồng thời tài sản đảm bảo của nhóm 3 có khả năng bị suy giảm về mặt giá trị.
d) Nhóm 4 là nợ nghi ngờ: đây là nhóm nợ sẽ gây tổn thất, thiệt hại mất vốn cho chủ nợ nhưng còn hi vọng, thời gian quá hạn của khoản nợ này là từ 181 đến 360 ngày. Bao gồm các khoản nợ đã qua cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại lần hai còn trong thời hạn và các khoản nợ có quyết định thu hồi nhưng chưa thu hồi được trong khoảng thời gian từ 30 đến 60 ngày trong thời gian từ khi có quyết định thu hồi. e) Nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn: đây là nhóm nợ có thời hạn đáo hạn là trên 360 ngày, nhóm nợ này có khả năng gây thiệt hại cho chủ nợ rất cao và có thể không thu hồi lại vốn gốc được. Bao gồm các khoản nợ như đã cơ cấu lại thời gian trả nợ lần 1, lần 2, lần 3 và các khoản nợ chưa thể thu hồi được nợ trên 60 ngày từ khi có quyết định thu hồi.
Bảng tóm tắt về các nhóm của nợ xấu tại Việt Nam Nhóm Mức độ Thời gian nợ quá hạn 1 Nhóm nợ đủ tiêu chuẩn < 10 ngày 2 Nhóm nợ cần chú ý 10 – 90 ngày 3 Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn 91 – 180 ngày 4 Nhóm nợ nghi ngờ bị mất vốn 181 ngày – 360 ngày 5 Nhóm nợ có khả năng mất vốn > 360 ngày Nguồn: Khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN 12 Nợ xấu được xem là sự phản ánh khả năng thu hồi vốn một cách khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn (Theo giáo trình Ngân hàng Thương mại). Nợ có thời gian thanh toán sau 90 ngày được xem là một khoản nợ và tên của những khách hàng có liên quan về nợ xấu sẽ bị liệt kê vào danh sách những khách hàng có nợ xấu trên hệ thống CIC. NPL của các NHTM được tính bằng cách lấy tổng nợ xấu thực hiện phép tính chia cho tổng dư nợ hay được tính theo quyết định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN thì nợ xấu bao gồm những nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nhóm nợ nghi ngờ bị mất vốn (nhóm 4) và nhóm nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5). Vì vậy, do các yếu tố định tính khó mà có thể xác định được nên nợ xấu trong bài nghiên cứu sẽ được thu thập theo tiêu chí định lượng với công thức: 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 Dư nợ nhóm 3+Dư nợ nhóm 4+Dư nợ nhóm 5 Tỷ lệ nợ xấu = = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Tổng dư nợ 2.
Lý thuyết các nhân tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại 2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Lý thuyết này xuất hiện lần đầu tiên cùng với nhà nghiên cứu G. Theo nhà nghiên cứu thì khi có một đối tượng trong giao dịch có thông tin ít hơn đối tác hoặc có thông tin nhiều nhưng nguồn thông tin không chính xác đều này sẽ dẫn đến hiện tượng thông tin bất cân xứng. Đến hiện tại, lý thuyết thông tin bất cân xứng là lý thuyết vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu được hầu hệ nhà nghiên cứu về kinh tế học quan tâm chú ý.