Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây mía 1. Nguồn gốc cây mía và lịch sử phát triển sản xuất mía đường Theo Trần Văn Sỏi (2003), phân loại thực vật cây mía thuộc ngành có hạt (Spermatophyta), lớp 1 lá mầm (Monocotyledneae), họ hòa thảo (Gramimeae), chi Saccharum. Trong chi Saccharum có 6 loài: Loài nhiệt đới (Saccharum officinarum L.), loài Trung Quốc (Saccharum sinense Roxb Emend.
Jesw), loài An D6 (Saccharum barberi Jesw), loài hoang dai (Saccharum spontaneum L.), loài hoang dai (Saccharum robustum Bround and Jesw), loài mia hoang dai (Saccharum edule). Các giống mia trồng là sản phẩm lai tự nhiên, lai nhân tạo giữa các loài kế trên hoặc tuyển chọn từ ba loài Saccharum officinarum, Saccharum sinense va Saccharum barberi. Cây mía có khả năng tái sinh mạnh nên trồng 1 năm có thé dé gốc thu hoạch nhiều năm. Mia có khả năng thích ứng mạnh, có thé trồng trên nhiều loại đất, môi trường sinh thái cũng như trình độ thâm canh và chế biến khác nhau.
Sản phẩm chính của cây mia là đường được lay từ thân. Ngoài sản pham chính của cây mía là đường, người ta còn thu được các sản pham phu sau ché bién đường như bã mía, mật ri, bùn lọc (Nguyễn Viết Hưng và cs, 2012). Sơ lược thời kì nảy mầm của cây mía Chu kỳ sinh trưởng của cây mía từ trồng đến thu hoạch (mía tơ) hoặc từ để gốc đến thu hoạch (mía gốc) thường kéo dai 1 năm đối với mía nguyên liệu và 6 - 8 tháng đối với mía giống. Nhưng chu kỳ khai thác của cây mía có thể kéo dài từ 3 đến 10 năm.
Chu kỳ sinh trưởng của cây mía có thể chia thành 5 thời kỳ: nảy mầm, cây con, đẻ nhánh, vươn lóng, chín công nghiệp và chín sinh lý (Nguyễn Huy Ước, 2001). Trong các thời kỳ sinh trưởng của cây mía thời kỳ nảy mầm, cây con là các thời kỳ rat quan trọng và cần quan tâm dé tác động (trồng dam, bón phân, làm cỏ, xới xáo) đảm bảo mật độ trồng, tạo năng suất, chất lượng cao. Thời kỳ nảy mầm được tính từ lúc trồng đến khi kết thúc nảy mầm (3 - 4 lá thật). Thời gian của giai đoạn nảy mầm thường 30 - 35 ngày.
Thời kỳ nảy mầm dài hay ngắn, tỉ lệ nảy mầm cao hay thấp, mầm mọc khoẻ hay yếu phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao gồm cả nội tại và ngoại cảnh. Các yếu tố chính chi phối sự nảy mầm gồm có chất lượng của hom mia, vị trí của mam trên thân mia, cách chặt hom dài hay ngắn, nhiệt độ và độ âm của đất (Trần Văn Soi, 2003). Sơ lược giống mía LK92-11 Theo Hoàng Thi Hạnh (2017), giống LK92-11 được lại tạo từ giống bố me K84-200 x Eheaw tại tinh Lampang Kanchanaburi, Thai Lan năm 1992. Hiện nay, giống LK92-11 đang chiếm gan 30% tổng diện tích trồng mía và đứng thứ hai trong số các giống trồng phô biến nhất ở Thái Lan.
Viện Nghiên cứu Mia đường đã nhập nội giống LK92-11 từ năm 2005, giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận cho sản xuất thử tại vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên từ năm 2011. Từ 2013 - 2016, Viện Nghiên cứu Mia đường tiếp tục khảo nghiệm LK92-11 tại vùng mía Tây Nam bộ như Long An, Bến Tre, Hậu Giang. Giống mía LK92-11 có đặc điểm thân mía to trung bình, mắt mam det nhỏ, phiến lá đứng rộng trung bình màu xanh, be lá dé bong ra, khả năng lưu gốc tốt, đẻ nhánh nhiều, thích hợp đất sét pha cát, thuộc loại đất nhẹ. Chống chịu tốt với sâu đục ngọn, sâu đục thân, bị sâu mình tím ở mức nhẹ.
Không bị nhiễm bệnh than, bệnh thối ngọn, bệnh trắng lá. Ngoài ra giống LK92-11 có tiềm năng cho năng suất 100 - 120 tan/ha và chữ đường khá cao 12-13 CCS. Là giống mia chín trung bình sớm (11 tháng tuổi), không trỗ cờ hoặc ít trổ cờ, thích hợp cho chế biến đầu vụ ép (Lê Thị Thường và cs, 2019). Theo kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tính đến vụ mía 2014 - 2015, cả nước đã có trên 22.000 ha trồng giống mía LK92-11, tập trung chủ yếu ở các vùng mía phía Nam và đang có xu hướng phát triển mở rộng ở vùng Bắc Trung bộ (Hoàng Thị Hạnh, 2017).
Giới thiệu chung về mía giống 1. Hiện trạng và nhu cầu mía giống trong sản xuất mía Cây mia (Saccharum officinarum L.) là một trong những cây chuyền déi năng lượng mặt trời hiệu quả nhất thành đường và các nguồn năng lượng tái tạo khác nhờ con đường quang hợp C4. Hiện nay, đường đang là một nhu cầu rất cần thiết trong đời sống con người. Theo thống kê, nhu cầu tiêu thụ đường trung bình tính theo đầu người là 35kg/ người/ năm, và dự kiến nhu cầu về đường sẽ còn tăng nữa.
Mặt khác, ngày nay thế giới có xu hướng sử dung mía đường để tạo ra ethanol — là nguồn nguyên liệu sinh học thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt (Phan Thị Thu Hiền và cs, 2009). Theo Công ty Cổ phần Mia đường Thanh Thanh Công Tây Ninh (2020) diện tích mía các công ty thuộc tập đoàn niên vụ 2019 - 2020 là 12. Trong đó, trong tỉnh Tây Ninh là 7.097 ha, diện tích ngoài tỉnh khác là 5.562 ha (chủ yếu là Campuchia), diện tích trồng mới 3. Với diện tích trồng mới lớn dẫn nhu cầu cần lượng mía giống dé đáp ứng nhu cầu trồng mía là rất nhiều.
Vì vậy van đề san xuất mía giống là rất cần thiết cho sản xuất cây mía hiện nay. Ngoài ra, điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng hạn nhiều dẫn đến diện tích mía giống nhiều vùng bị chết khô, dan đến tình trạng thiếu mía giống trầm trọng. Nhiều công ty, nông dân trồng mía không đủ giống trồng, dẫn đến thiếu hụt giống trầm trọng. Nhằm đảm bảo có đủ giống để kịp thời vụ trồng thì việc sản xuất mía giống là vấn đề rất quan trọng đảm bảo được sự phát triển bền vững của cây mía.
Một số phương pháp nhân giống mía Sau khi tuyển chọn giống mía tốt, việc nhân giống nhanh hay chậm quyết định tốc độ đưa giống mía tốt ra phục vụ sản xuất. Cách lấy giống từ phần ngọn lúc thu hoạch như hiện nay hệ số nhân giống mía chỉ đạt từ 1 — 1,5, như thé là rất chậm. Dé khắc phục nhược điểm trên nên áp dụng phương pháp nhân giống bằng hom mía một mắt mầm hoặc nuôi cây mô, hệ số nhân giống mía sẽ tăng lên 10 lần, 50 lần. Khi cần thiết có thê đến hàng nghìn lần (Trần Văn Soi, 2003).
Ưu nhược điểm của các phương pháp nhân giống mía Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm + Hệ số nhân giống thấp + Khó khăn trong việc bảo quản a ` ent alt wi Ề giống trên đồng ruộng Nhân giông bang + Chi phí dau tư giông thâp ‹ „ : + Cân một lượng giông mía 8 -10 hom ngọn + Không yêu câu kỹ thuậtcao „ „ „ tân/ha, sô lượng giông lớn gây khó khăn trong việc vận chuyển đến đồng ruộng. + Chọn được số mam tốt dé trồng + Doi hỏi phải có kỹ thuật và + Số lượng mắt mầm trồng công cụ chuyên dùng dé khi tách ¬¬ giảm chỉ bằng một phần ba mam ra khỏi thân mía mắt mầm Nhân giông bắng trồng bang hom. không bị tốn thương và mọc tốt. hom mía một + Giữ va bảo quản giống cho + Việc ươm hom | mắt mam tai mat mam vụ trồng mới trong điều kiện vườn ươm làm phát sinh thêm chi ở những nơi khó khăn không phí trong quá trình chuân bị giống bảo quản được giống trên cho trồng mới.
đồng ruộng + Hệ số nhân gidng cao + Cần đầu tư phòng thí nghiệm, + Có khả năng nhân nhanh trang thiết bị chuyên dùng và đội các giống mía mới đáp ứng ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật Nhân giống bằng yêu cầu của sản xuất cao. nuôi cay mô + Sử dụng phương pháp này + Giá thành cây con giống lấy từ dé phục tráng các giống cũ và ống nghiệm thường cao hơn rất làm sạch mầm bệnh ở những nhiều so với nhân giống bằng gidng mia bị nhiễm. hom thông thường. Nguồn: Viện nghiên cứu mia đường, năm 2015 1.
Nhân giống mía bằng phương pháp ươm hom một mắt mầm 1. Tình hình nghiên cứu về nhân giống mía một mắt mầm trên thế giới Cây mía thường được trồng đại trà bằng cách sử dụng các đoạn thân mía, được gọi là hom mía với chiều dài khoảng 25 — 30 em có 2 - 3 mắt mầm. Phương pháp trồng này hiện nay đã giảm hiệu quả về mặt kinh tế do chi phí mía giống quá cao, chiếm hơn 20% tổng chi phi sản xuất. Tai Ai Cập, thông thường dé trồng mới 1 ha mía phải cần lượng mía giống khoảng 11,9 — 14,3 tắn.
Lượng mía giống quá lớn còn gây khó khăn cho các khâu vận chuyền, xử lý và lưu trữ. Bên cạnh đó, mía giống cũng có thé bị hư hỏng, làm giảm sức sống của mắt mầm và giảm tỉ lệ nảy mầm trên đồng ruộng (Galal, 2016). Tại Án Độ, phương pháp trồng mới sử dụng hom mía chỉ có một mắt mầm đã giúp giảm lượng vật liệu làm giống từ 8 -10 tan/ha xuống còn khoảng 90 - 100kg /ha. Trong phương pháp này, các mắt mầm mia được cắt ra từ thân cây mía, chỉ lay phần mắt mía có thé nay mầm và bỏ lại phần long mía, phan long mía này có thé được đưa về nhà máy dé ép và sản xuất ra sản phẩm đường, do đó đã giảm được lượng vật liệu làm giống xuống hàng trăm lần.
Bên cạnh đó, hom mía được cắt ra rất thuận tiện cho việc xử lý qua các dung dịch thuốc trừ nam bệnh, giúp giảm tỉ lệ nhiễm bệnh từ môi trường vào vật liệu làm giống. Các hom mía một mắt mầm này nếu được ươm tại vườn ươm trong khoảng thời gian 45 - 60 ngày sẽ tạo ra các cây giống để phục vụ cho trồng mới (Jasvir va Gurpreet, 2015). Hom một mắt mam được cắt ra từ các vị trí khác nhau của than cây mía có sự khác biệt về khả năng nảy mầm và sức sống của cây con. Các hom cắt ra từ vị trí ngọn có mắt mầm trẻ hơn và chứa nhiều auxin hơn các hom cắt ra từ phần gốc cây mía, và đo đó có tỉ lệ nảy mầm cao hơn, thời gian nảy mầm sớm hơn, cây con tạo ra có sức sống tốt hơn (Musa và ctv, 2020).
Xử lý các hom mía một mắt mầm bằng các hóa chất như Ethephon (0,1g/L) và Calcium chloride (1g/L) có thé giúp tăng tỉ lệ nay mầm của mắt mầm, giúp cây con tăng chiều cao và số lượng rễ, tăng sức sống của cây con khi xuất vườn (Jain va cs, 201 1).