Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân bố của cây lạc Lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea.L, có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ [11], [13]. Cây lạc thuộc chi Arachis, họ đậu Fabaceae, bộ Poales. Những cây trồng thuộc nhóm này có đặc trưng quan trọng là có hoa trên mặt đất nhưng quả thì nằm dưới mặt đất.
Vào thế kỷ 16 người Bồ Đào Nha đã mang lạc từ Brazil đến Tây châu Phi và sau đó là Tây Nam Ấn Độ. Cây lạc đã được giới thiệu đến Trung Quốc và các nước ở Tây Thái Bình Dương như Indonesia, Madagascar do thương nhân người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 17 và một loạt các nhà truyền giáo người Mỹ trong thế kỷ 19 và sau đó lan rộng ra khắp châu Á. Ở Việt Nam, lịch sử trồng cây lạc chưa được xác minh rõ ràng, sách “Văn đài loại ngữ” của Lê Quí Đôn cũng chưa đề cập đến cây lạc. Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “Lạc” có thể do từ Hán “Lạc hoa sinh” (có người cho rằng người Hán đã phiên âm từ "Arachis") là từ mà người Trung Quốc gọi cây lạc.
Do vậy, cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ 17-18. Trước thế kỷ 19, cây lạc ở Nam và Bắc Mỹ được người Châu Âu khai thác chủ yếu được dùng làm thức ăn gia súc. Nhà khoa học Mỹ gốc Phi George Washington Carver (1864-1943), là người đầu tiên khuyến cáo nông dân nghèo ở châu Mỹ trồng rộng rãi cây lạc để làm lương thực cải thiện đời sống. Ông đã đưa ra trên 100 công thức chế biến lạc làm thực phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm công nghiệp, nhờ đó ông đã nhận được Huân chương Spingarn của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của 6 người da màu (NAACP).
Từ đó cây lạc phát triển mạnh mẽ ở Nam, Trung và Bắc Mỹ. Hiện nay, cây lạc có khoảng 1000 giống khác nhau được trồng khắp các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Do ít mẫn cảm với thời gian chiếu sáng và có tính chịu hạn tốt cho nên lạc được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới từ 40 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam (Nigam et al, 1991). Vai trò, vị trí của cây lạc 1.
Giá trị dinh dưỡng của cây lạc Lạc là nguồn thực phẩm giàu protein, lipid và các loại vitamin nhóm B. Hạt lạc có nhiều chất hữu cơ bay hơi đã tạo nên vị ngọt điển hình và mùi thơm đặc trưng của hạt lạc. Hạt lạc có thành phần các chất dinh dưỡng như sau: lipit 44 – 56 %, protein khoảng 25 – 34 %, gluxit khoảng 6 – 25 %, xellulose 2 – 4,5 %, nước 9,2 %, 68 mg % P, ngoài ra trong hạt lạc còn chứa một số loại vitamin như A, các nhóm vitamin B (B1,2,3,6), PP … [12], [21], [44]. Dầu lạc là thành phần quan trọng của hạt lạc mang tính chất quyết định chất lượng của hạt lạc.
Dầu lạc gồm các glycerid của nhiều acid béo bão hòa và chưa bão hòa, với tỉ lệ thay đổi tùy theo vùng canh tác và chất lượng chăm bón. Dầu lạc chứa các vitamin hòa tan trong dầu, trong đó nhiều nhất là vitamin E - một yếu tố quan trọng trong tổng hợp hormone sinh dục, chống lão hóa. Hai acid bão hòa có trong dầu lạc là acid arachidic (C20) và acid lignoxeric (C24) thấy trong bơ ca cao và trong bơ sữa bò. Đây là hai acid béo bão hòa dạng cis nên không gây nguy hiểm cho tim mạch.
Ngoài những thành phần trên, frampton và boudreaux còn thấy là một chất tan trong nước của hạt lạc có tác dụng cầm máu. Các vitamin như thiamine (vitamin B1) trong lạc đã rang chiếm 0,23 mg %. Nó là một phần của coenzyme thiamin 7 pyrophosphate rất quan trọng trong phản ứng giải phóng năng lượng từ carbohydrate, chất béo và alcool (rượu, bia). [11], [12] Ở nhiệt độ thường, dầu lạc tồn tại ở trạng thái lỏng màu vàng nhạt, có độ nhớt thấp, có hương và mùi vị như hạt dẻ.
Protein là thành phần quan trọng của hạt lạc. Protein chiếm khoảng 21 – 36% thành phần hạt lạc, trong lạc có đến 90 – 95% là 2 loại globulin: Arachin (chiếm ¾) và Conarachin (chiếm ¼) hợp thành. Ngoài ra protein hạt lạc còn chứa các loại axit amin không thay thế như: phenylalanine, valin, loxin, methyonine, lyzine, treonine [6] Năng lượng: 100g hạt lạc 590 Calo > đậu tương (411 Calo) > Gạo (356 Calo) > Trứng vịt (189 Calo) 1. Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường Lạc có giá trị kinh tế cao trong nhiều lĩnh vực và mang lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể cho người nông dân.
Là cây công hiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao nên cây lạc hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi, công nghiệp và thực phẩm. Trong chăn nuôi thường dùng khô dầu lạc, thân, lá lạc và tận dụng các phụ phẩm của dầu lạc làm thức ăn xanh cho gia súc. Khô dầu lạc có thành phần dinh dưỡng tương đối tốt so với các loại khô dầu khác. Khô dầu lạc là nguồn thức ăn giàu prôtêin và vỏ quả (sản phẩm phụ) dùng để nghiền thành cám dùng cho chăn nuôi.
Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương với cám gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp rất tốt. Do có giá trị dinh dưỡng cao lạc từ lâu con người đã sử dụng hạt lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Sử dụng trực tiếp như quả non dùng để luộc, quả già dùng để rang, nấu. hay dùng gián tiếp như ép dầu để làm dầu ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và thực phẩm khác.
Gần đây nhờ có công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến thành rất nhiều mặt hàng 8 thực phẩm có giá trị từ lạc như rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc, kẹo lạc. Đồng thời, Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ, Achentina) có giá trị xuất khẩu lạc cao nhất thế giới mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ quan trọng cho đất nước. Vai trò của cây lạc trong việc cải tạo đất Cũng như các loại cây họ đậu khác, lạc có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo đất do khả năng cố định đạm (N) của vi khuẩn cố định đạm cộng sinh trên rễ cây tạo thành nốt sần, đó là vi khuẩn Rhizobium vigna. Rhizobium vigna có thể tạo nốt sần ở rễ một số cây họ đậu nhưng với lạc thì tạo được nốt sần lớn và khả năng cố định đạm cao hơn cả.
Nhờ khả năng cố định đạm, sau khi thu hoạch lạc thành phần hóa tính của đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật háo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với cây trồng sau. Trong các hệ thống cố định nitơ sinh học, cố định nitơ cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ được sản xuất trên toàn thế giới năm 1990. Theo Nguyễn Minh Hiếu (2003), lạc có khả năng cung cấp cho đất khoảng 72 – 124 kg N/ha/năm [17]. Đồng thời, thân và lá lạc là nguồn phân hữu cơ để cải tạo thành phần cơ giới của đất (5 -10 tấn lá/ha) 1.
Yêu cầu sinh thái của cây lạc 1. Yêu cầu về nhiệt độ Tùy từng giai đoạn khác nhau mà cây lạc cần nhiệt độ tương ứng. Nhưng nhìn chung cây lạc thích hợp với khí hậu nhiệt đới giống khí hậu của Việt Nam. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho cây lạc phát triển là từ 25 – 350C.
9 Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm từ 32 – 340C, với nhiệt độ này khoảng 4 – 5 ngày hạt sẽ nảy mầm. Nhiệt độ tối thiểu để hạt nảy mầm là 120C và tối đa là 41 – 420C, ở nhiệt độ này sự nảy mầm diễn ra chậm chạp và cây non phát triển yếu ớt [6], [11], [19]. Quá trình sinh trưởng của cây lạc cần nhiệt độ thích hợp là 23 – 300C, quá trình này sẽ kéo dài từ 30 - 40 ngày. Nhiệt độ thích hợp cho cây ra hoa là 24 – 330C, tối ưu nhất là 290C vào ban ngày và 230C vào ban đêm ở nhiệt độ này hệ số ra hoa là 21%.
Nếu nhiệt độ <200C cây không ra hoa [6], [11]. Nhiệt độ thích hợp để quả lạc chín là 25 – 280C [11]. Yêu cầu về ánh sáng Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ. Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc.
Ở thời kỳ nảy mầm, ánh sáng kìm hãm tốc độ hút nước của hạt, sự sinh trưởng của rễ và tốc độ vươn dài của trục phôi. Ở thời kỳ kết quả, tia ở ngoài ánh sáng phát triển chậm và quả chỉ có thể phát triển trong bóng tối. Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng. Yêu cầu về nước Nước là yếu tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất cây lạc.
Lạc có khả năng chịu hạn tương đối nhưng nếu thiếu nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và đặc biệt là năng suất cây lạc. Trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lạc cần lượng nước tối thiểu là 400 – 800 mm, và độ ẩm cần thiết trong đất là 60 – 70% [6], [11]. 10 Hạt lạc nảy mầm tốt nhất khi đất có độ ẩm là 70 – 80%, nếu độ ẩm quá lớn (>90%) hay quá thấp (<60%) hạt lạc khó nảy mầm hoặc ẩm độ dưới 40 – 45% hạt không nảy mầm được. Thời kì trước ra hoa của cây lạc không yêu cầu nhiều nước.
Nếu thiếu nước ở giai đoạn này chỉ làm chậm sự sinh trưởng của cây, để cây phục hồi cần tưới đủ nước. Độ ẩm thích hợp cho giai đoạn này là 60 – 65% [11], [32]. Lạc mẫn cảm nhất với hạn trong thời kì ra hoa rộ, nếu trong giai đoạn này lạc bị thiếu nước sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ thống rễ của cây cũng như khả năng thụ tinh của hoa lạc. Kết quả nghiên cứu của Viện KHNN Trung Quốc cho thấy rằng: thời gian ra hoa kết quả chỉ chiếm 35 – 43,5% thời gian sinh trưởng của lạc, nhưng cần lượng nước bằng 48 – 61,5% nhu cầu nước của cả chu kì sinh trưởng.
Thời kì chín của quả chiếm 23 – 34% thời gian sinh trưởng nhưng nhu cầu nước chiếm 14,5 – 32,5% tổng nhu cầu nước [7], [11], [12].