CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Tổng quan về thị trường chứng khoán 1. Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đó. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hỏa động trao đối, mua bán, chuyển nhượng chứng khoán qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chúng. Nhưng xét về mặt bản chất thì TTCK chính là định chế tài chính trực tiếp, nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm hoặc tạm thời nhàn rỗi đến những người có nhu cầu vốn trực tiếp tham gia thị trường mà không thông qua trung gian tài chính như ngân hàng. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK TTCK thường nhằm vào 3 mục tiêu lớn: hoạt động có hiệu quả, điều hành công bằng, phát triển ổn định (Nguyễn Thanh Phương, 2015).
Để đạt được mục tiêu đó, thị trường chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc trung gian Nguyên tắc trung gian đòi hỏi việc mua bán chứng khoán phải thông qua trung gian môi giới thực hiện. Đây là nguyên tắc truyền thống, cơ bản của TTCK nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động lành mạnh, hợp pháp, khắc phục những hạn chế về không gian của sàn giao dịch. Trên thị trường sơ cấp, nguyên tắc này thể hiện qua việc chào bán chứng khoán dưới hình thức đấu giá hoặc bảo lãnh phát hành. Còn đối với thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư sẽ thông qua các nhà môi giới để đặt lệnh mua hoặc bán.
Sau khi nhập lệnh vào hệ thống, lệnh sẽ được khớp. 5 - Nguyên tắc đấu giá Đặc điểm của TTCK là cạnh tranh hoàn hảo, tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này mà phải thông qua bên trung gian thứ 3. Vì vậy, giá chứng khoán sẽ được xác định bằng cách đấu giá các lệnh mua và bán. Có ba hình thức đấu giá phổ biến hiện nay bao gồm: + Đấu giá trực tiếp: là hình thức đấu giá trong đó các nhà môi giới trực tiếp gặp nhau để thương lượng giá.
Ví dụ: TTCK New York, Tokyo, Frankfurt. + Đấu giá gián tiếp: là hình thức đấu giá việc thương lượng giá cả được thực hiện gián tiếp thông qua hệ thống điện thoại và vi tính nối mạng. Ví dụ TTCK London. + Đấu giá tự động: là hình thức đấu giá qua hệ thống vi tính nốỉ mạng giữa máy chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của các công ty chứng khoán thành viên.
Các lệnh mua bán được truyền đến máy chủ, máy chủ tự động khớp các lệnh mua bán có giá phù hợp và thông báo kết quả cho những công ty chứng khoán có các lệnh đặt hàng được thực hiện (Ví dụ như TTCK Thái Lan.) - Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động trên thị truờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và chính xác. Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số. Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút đuợc nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư). Chức năng của thị trường chứng khoán Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế ngày nay là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, bởi nó ảnh hưởng đến cả nhà đầu tư, Chính phủ và bản thân người phát hành chứng khoán (Nguyễn Thanh Phương, 2015). ➢ Đối với nhà phát hành: + TTCK tạo ra một kênh huy động vốn mới với chi phí vốn hợp lý.
+ TTCK là nơi đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. + Hiệu quả của quốc tế hóa TTCK. Việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Điều này cho phép các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đồng thời mở rộng cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước. + TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý. Khi quy mô doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo. ➢ Đối với nhà đầu tư: + Các nhà đầu tư có thể phân tích và sàng lọc một danh mục đầu tư hấp dẫn và đầu tư vốn theo danh mục đó.
Đây chính là thực hiện theo nguyên lý của đa dạng hóa đầu tư: “không nên bỏ tất cả số trứng vào một giỏ”. Điều này sẽ làm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư. + Hình thành thói quen phân tích trong đầu tư, tạo nên văn hóa đầu tư. TTCK là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về chứng khoán qua đó cho phép chuyển các khoản tiết kiệm vào đầu tư, khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành thì số tiền tiết kiệm của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó góp phần tăng trưởng nền kinh tế của quốc gia.
7 + TTCK cung cấp môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội đầu tư phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn, khả năng đưa lại lợi tức và mức độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với khả năng, sở thích và mục đích của mình. Chính vì vậy, TTCK có tác dụng quan trọng trong việc khuyến khích tiết kiệm để đầu tư. ➢ Đối với Chính phủ và nền kinh tế: + TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn lực tài chính và tạo ra các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. + Thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Do chủ thể phát hành chứng khoán được quyền sử dụng nguồn vốn huy động cho mục đích riêng mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện của nhà đầu tư nước ngoài nên việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua chứng khoán được đánh giá là một công cụ an toàn và hữu ích. + Tính thanh khoản do thị trường chứng khoán mang lại sẽ giúp cho dòng vốn được luân chuyển nhanh và trở thành một kênh huy động vốn đầu tư hiệu quả.
Các chủ thể tham gia TTCK Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành bốn nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, các tổ chức cung ứng dịch vụ và cơ quan quản lý giám sát thị trường. ➢ Chủ thể phát hành Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa của thị trường chứng khoán. Đây là những người cần tiền và huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán và bán cho những nhà đầu tư hoặc những người kinh doanh chứng khoán. Các chủ thể phát hành có thể là: Chính phủ, các doanh nghiệp và một số tổ chức khác như: các quỹ đầu tư; tổ chức tài chính trung gian.
8 ➢ Chủ thể đầu tư Nhà đầu tư là những tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư trên TTCK bằng cách mua bán chứng khoán nhằm hưởng lợi nhuận. Nhà đầu tư có thể được chia thành hai loại: - Nhà đầu tư cá nhân: là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. - Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Ví dụ như: ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm.
➢ Các tổ chức cung ứng dịch vụ - Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại tham gia việc tổ chức cung ứng dịch vụ trên TTCK với vai trò là ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng giám sát,. + Ngân hàng chỉ định thanh toán: thực hiện việc thanh toán các giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch. + Ngân hàng giám sát: Bảo quản tài sản cho quỹ đầu tư, định giá tài sản, theo dõi sự tăng giảm của tài sản, đồng thời làm nhiệm vụ giám sát kiểm tra hoạt động của các công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ quyền lợi của những nhà đầu tư. - Công ty chứng khoán (CTCK): là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Để có thể thực hiện các nghiệp vụ, công ty chứng khoán phải đảm bảo được một số vốn nhất định và phải được cấp phép của cơ quan có thẩm quyền. ➢ Cơ quan quản lý giám sát thị trường TTCK chịu sự quản lý và giám sát của hai nhóm chính: - Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK (Bộ Tài Chính, UBCKNN): Các cơ quan này thực hiện chức năng quản lý thông qua việc ban hành hoặc đề nghị các cơ quan cấp trên như Chính phủ, Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật định hướng và điều tiết 9 hoạt động của thị trường.