Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Giới thiệu chung về lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan cơ cấu tài chính. Chương này cũng đồng thời giới thiệu chi tiết về các mô hình dự báo đã được xây dựng trước đây. Sử dụng kết quả những nghiên cứu này làm nền tảng cho đề tài.
Chương 3: Xây dựng mô hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trình bày một cách chi tiết về phương pháp phân tích được sử dụng trong việc xây dựng mô hình dự báo phá sản. Chương 3 cũng trình bày bộ mẫu và các biến dùng trong nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Từ phương pháp nghiên cứu và các biến giới thiệu ở chương 3. Chương 4 trình bày các thống kê mô tả các biến đưa vào nghiên cứu để phản ánh đặc trưng của mẫu nói riêng và các công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán nói chung.
Đồng thời chương 4 cũng trình bày kết quả các kiểm định và cho thấy mô hình dự báo phá sản phù hợp cho thị trường Việt Nam. Chương 5: Kết luận, kiến nghị Tổng kết lại những kết quả của nghiên cứu và đưa ra các kết luận về kết quả đạt được. Dựa trên mô hình xây dựng đưa ra một số kiến nghị cho việc sử dụng mô hình và các đối tượng liên quan sử dụng mô hình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan cơ cấu tài chính 2.1 Khái niệm cơ cấu tài chính Theo Brigham và Houston (2009), “Cơ cấu tài chính đề cập đến mối quan hệ kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau trong doanh nghiệp”.
Brealey và các tác giả (2008:227) nhấn mạnh đến “sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu”. đó là toàn bộ các thành phần của nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán (bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn với vốn chủ sở hữu) để tài trợ cho các thành phần bên tài sản của bảng cân đối kế toán (bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn). Cơ cấu tài chính doanh nghiệp là một phạm trù phản ánh một cách tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp trên hai mặt là cơ cấu nguồn vốn gắn liền với quá trình huy động vốn phản ánh chính sách tài trợ của doanh nghiệp và cơ cấu tài sản gắn liền với quá trình sử dụng tài sản phản ánh chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, cơ cấu tài chính là một phạm trù phản ánh cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Nợ và vốn chủ sở hữu là các thành phần cơ bản trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Cơ cấu tài chính thường được nhắc đến với tỷ lệ Tổng nợ/Tổng tài sản của doanh nghiệp, cung cấp cái nhìn sâu sắc về mức độ rủi ro của một doanh nghiệp. Thông thường, tài sản của doanh nghiệp được tài trợ nhiều bằng nợ đặt ra rủi ro lớn hơn, vì công ty này có đòn bẩy tài chính là tương đối cao. Quyết định về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp là một quyết định liên tục và phải được thực hiện bất cứ khi nào doanh nghiệp cần bổ sung thêm tài chính.
Cơ cấu tài chính là sự kết hợp nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho những khoản đầu tư đến từ hai nguồn hoặc là vay vốn từ ngân hàng, phát hành trái phiếu gọi là nợ hoặc phát hành cổ phiếu ra công chúng gọi là vốn chủ sở hữu. Myers (1984), lập luận rằng không có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cơ cấu tài chính tối ưu cho một doanh nghiệp, và doanh nghiệp sử dụng nợ một khi nguồn vốn nội bộ từ lợi nhuận giữ lại đã sử dụng hết, tiếp theo mới sử dụng nợ và sau đó là phát hành cổ phiếu ra thị trường. Bởi vì nguồn vốn nội bộ có chi phí rẻ hơn so chi phí nợ. Nhưng có hai lợi ích chính của nợ đối với doanh nghiệp.
Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế. Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu phải đóng thuế. Trên nguyên tắc mà nói nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng thì phải giảm được thuế doanh nghiệp phải nộp, và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên. Ưu điểm thứ hai của nợ đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu.
Sở dĩ nói như vậy là vì: thứ nhất quyền của các chủ nợ được ưu tiên trước quyền của cổ đông, nếu trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, do vậy chủ nợ được xem là có mức rủi ro thấp hơn các cổ đông; tương ứng với sự an toàn này họ sẽ nhận được 1 tỷ suất lợi nhuận thấp hơn trên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần của các cổ đông. Thứ hai chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế làm giảm thuế thu nhập mà Doanh nghiệp phải nộp, mang đến cho doanh nghiệp lợi ích lá chắn thuế. Ưu điểm khác của nợ vay cũng cần phải kể đến là nợ giúp cho các nhà điều hành thận trọng hơn khi đầu tư: Thực tế từ các thị trường cho thấy đối với các công ty dồi dào tiền mặt và không có khả năng tăng trưởng nhanh, các nhà quản lý có khuynh hướng đầu tư tiền vào những dự án ồn ào nhưng không hiệu quả, hoặc dùng tiền tăng chi phí để tạo ra tăng trưởng. Dĩ nhiên những dự án này không tạo ra giá trị cao cho công ty.
Thuật ngữ tài chính gọi việc này là over-investment - đầu tư thái quá. Nếu công ty không có hội đồng quản trị giám sát chặt chẽ thì hiệu ứng đầu tư thái quá này sẽ xảy ra càng nhiều.Nhưng nếu công ty mượn nợ để tài trợ cho các khoản đầu tư, thì việc phải trả lãi định kỳ, cũng như trả vốn theo định kỳ sẽ ngăn hoặc giảm việc đầu tư thái quá này. Do đó về lý thuyết mà nói thì công ty tăng lợi tức là giảm chi phí chi trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận cũng như giá trị của công ty. Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với vốn chủ sở hữu khi đó công ty sẽ rơi vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tình trạng tài chính không lành mạnh và dẫn đến doanh nghiệp nguy cơ phá sản và những rủi ro khác.
Trong thực tế, tùy theo thời gian đáo hạn của các thành phần của doanh nghiệp mà có quyết định nguồn vốn cho doanh nghiệp. Về cơ bản, quyết định nguồn vốn bao gồm quyết định nguồn vốn ngắn hạn và quyết định nguồn vốn trung và dài hạn. Khi nói đến quyết định nguồn vốn, nếu không nói rõ thêm thì người ta hiểu đó là quyết định nguồn vốn dài hạn. Nợ ngắn hạn không được quan tâm nhiều đến trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp bởi vì nợ ngắn hạn mang tính ngắn hạn, tạm thời, không ảnh hưởng nhiều đến sự phân chia quyền quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp.
Hơn nữa, chi phí sử dụng nguồn vốn ngắn hạn thấp hơn chi phí sử dụng nguồn vốn dài hạn. Do đó, khi xây dựng quyết định huy động vốn, doanh nghiệp chỉ quan tâm đến các nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, theo Diamond (1991) đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp trong các thị trường mới nổi chủ yếu sử dụng nợ ngắn hạn, chính vì thế nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng hơn là nợ dài hạn. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu, cơ cấu tài chính là sự kết hợp giữa nợ phải trả (bao gồm: nợ ngắn hạn và nợ trung dài hạn) với vốn chủ sở hữu, tất cả được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.1 thể hiện các nguồn vốn huy động cơ bản trong mối liên hệ với việc sử dụng vốn của doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. 1 Sơ đồ thể hiện các nguồn vốn huy động cơ bản trong mối liên hệ với việc sử dụng vốn của doanh nghiệp Tài sản Nguồn vốn (sử dụng vốn) (huy động vốn) Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn Đầu tư dài hạn Vay dài hạn Vốn cổ phần ưu đãi Tài sản cố định hữu hình Vốn cổ phần phổ thông Tài sản cố định vô hình Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Tài sản cố định thuê tài chính Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu Chi phí trả trước dài hạn Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Từ các thành phần trong hình 2.1, biểu đồ dưới đây sẽ chỉ rõ sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn để đảm bảo cân đối cơ cấu tài chính theo thời gian đáo hạn. 2 Biểu đồ nguồn vốn phù hợp với cơ cấu tài sản Tài sản Tài sản lưu động thời vụ Nguồn vốn ngắn hạn Tài sản lưu động thường xuyên Nguồn vốn dài hạn 0 Thời gian Nguồn:Terry và John (1998). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các tỷ số cơ cấu tài chính – Đánh giá năng lực cân đối vốn và tài sản Để đánh giá và đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây thường căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, gồm: hệ số nợ, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, hệ số tự tài trợ.
Hệ số nợ Hệ số nợ được tính bằng cách lấy tổng nợ của doanh nghiệp trong một thời kỳ chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ. Công thức tính như sau: Trong đó: Tổng nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Tổng tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Hệ số nợ thể hiện mức độ sử dụng các nguồn vốn vay của doanh nghiệp, cho biết tài sản của doanh nghiệp được đầu tư bởi bao nhiêu phần từ vốn vay, ví dụ: hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60).
Qua đây, hệ số này biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp giúp đánh giá về tình trạng tài chính, bao gồm khả năng đảm bảo trả nợ, rủi ro của doanh nghiệp. Nếu tỷ số nợ trên tổng tài sản mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao.