phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng, 9 tiết và 26 tiểu tiết: Chƣơng 1: Một số nội dung cơ bản của Chủ nghĩa hiện sinh Chƣơng 2: Ảnh hƣởng của Chủ nghĩa hiện sinh đối với đời sống văn hoá xã hội phƣơng Tây hiện đại 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam và một số định hƣớng tiếp nhận nó hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 1. Tiền đề lý luận và điều kiện lịch sử ra đời Chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh hiện đại ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX do triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard khởi xƣớng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Chủ nghĩa hiện sinh không phải ngẫu nhiên, không phải là sự sáng tạo thuần túy của một số cá nhân, nó là sự kế thừa những di sản tƣ tƣởng quá khứ và do những điều kiện lịch sử đƣơng thời quy định.
Tiền đề lý luận Chủ nghĩa hiện sinh hiện đại bắt đầu hình thành từ giữa thế kỷ XIX, nhƣng những tƣ tƣởng hiện sinh thì đã có từ rất lâu trong tƣ tƣởng nhân loại. Ngƣời đầu tiên có những suy tƣ rất hiện sinh là triết gia Hy Lạp Cổ đại Socrates (469 – 399 trƣớc công nguyên). Trong khi các nhà triết học đƣơng thời mải mê đi tìm khởi nguyên của vũ trụ thì Socrates tuyên bố rằng triết học là sự tự ý thức của con người về chính bản thân mình. Ông lấy câu nói lừng danh ở đền Delphes: “Hãy tự biết lấy chính mình” làm nội dung triết học cơ bản của ông.
Ngƣời ta cũng thấy tƣ tƣởng hiện sinh rải rác trong Cơ đốc giáo: Kinh Cựu ƣớc và Tân ƣớc, cuộc đời Thánh Job, cuộc đời của Christ (Chúa Kitô), đặc biệt là những tƣ tƣởng của Thánh Augustine (354 – 430). Tƣ tƣởng hiện sinh của Thánh Augustine thể hiện trƣớc hết ở lời phán quyết: “Ở trong Ngƣời (Chúa), cái đã đƣợc tạo dựng, đó là sự sống” [29, tr. Ý tƣởng này cũng tƣơng tự nhƣ ý tƣởng của Socrates, nó nói đến cuộc sống của con ngƣời trƣớc hết, chứ không phải là tự nhiên hay vũ trụ. Và muốn hiểu đƣợc cuộc sống con ngƣời, theo Augustine, phải hiểu biết Thiên chúa, vì cuộc sống con ngƣời là do Thiên chúa tạo dựng theo ý tƣởng của Ngài; con ngƣời xa rời Thiên chúa thì không hiểu đƣợc Ngài, và do đó cũng không hiểu đƣợc chính 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình - đó là nguồn gốc của những tội lỗi mà con ngƣời phạm phải khi xa rời Thiên chúa.
Những tƣ tƣởng hiện sinh thể hiện rõ ràng nhất trong những trang bản thảo đƣợc xuất bản năm 1670 dƣới tiêu đề Tư tưởng (Pensées) của nhà triết học Pháp Blaise Pascal (1623 – 1662). Ở đó, ông đã mô tả nhiều chủ đề cơ bản giống với các triết gia hiện sinh sau này. Pascal lập luận rằng không có Chúa, cuộc sống sẽ rất đau khổ và vô nghĩa. Con ngƣời chỉ có thể tạo ra những vật cản và vƣợt qua chúng để cố thoát khỏi sự nhàm chán.
Nhƣng những chiến thắng có tính tƣợng trƣng đó cuối cùng cũng thành vô nghĩa, vì con ngƣời thực sự sẽ chết. Theo Pascal, đó là lý do khiến ngƣời ta phải lựa chọn làm ngƣời hữu thần. Bên cạnh sự hệ thống hoá những tƣ tƣởng hiện sinh rời rạc tồn tại trong lịch sử, sự ra đời của Chủ nghĩa hiện sinh còn dựa trên sự phê phán và kế thừa toàn bộ di sản triết học phƣơng Tây. Chủ nghĩa hiện sinh trƣớc hết là sự phản ứng trƣớc sự thống trị của Chủ nghĩa duy lý (Rasonalism) vốn là truyền thống của triết học phƣơng Tây: Từ Hy Lạp Cổ đại (Plato, Aristotle), qua Trung cổ (Thomas Aquinas), Cận đại (Decartes, Leibniz, Spinoza, Kant, Hegel…), đến Hiện đại (Russell, Wittgenstein…).
Chủ nghĩa duy lý, về mặt bản thể luận, coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất tuân theo những quy luật tất yếu (những quy luật này vốn có của bản thân thế giới hay do lực lƣợng siêu nhiên nhƣ “Ý niệm”, “Thƣợng đế”, “Lý tính thế giới”, “Ý niệm tuyệt đối”… quy định); về mặt nhận thức luận, nó coi tƣ duy, lý tính con ngƣời có thể đạt đến chân lý khách quan, tức là nhận thức đƣợc toàn bộ thế giới. Phản đối quan điểm duy lý trên, Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng thế giới là một khối hỗn độn không tuân theo quy luật nào cả, lý tính con ngƣời hoàn toàn bất lực trong việc nhận thức, lý 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải nó; do vậy, mỗi ngƣời có quyền gán cho thế giới một ý nghĩa nào đó tuỳ thích. Triết học phƣơng Tây, bên cạnh Chủ nghĩa duy lý luôn tồn tại mặt đối lập với nó là Chủ nghĩa phi duy lý (Irrationalism) phủ nhận các quy luật tất yếu của thế giới, phủ nhận vai trò của tƣ duy, lý tính con ngƣời trong việc nhận thức thế giới. Yếu tố phi lý tính có trong những câu cách ngôn tối nghĩa của Heraclitus, những khái niệm về số mệnh theo ý chí tuỳ tiện của các vị thần trên đỉnh Olymp (Hy Lạp Cổ đại); có trong đức tin tôn giáo: “Tôi tin vì nó phi lý” – Tertullianus (Trung cổ); trong tƣ tƣởng của Pascal: “trái tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không biết đến” (“heart has its reasons that are unknown to reason”) [63, tr.2] (Cận đại)… Đến thế kỷ XX, Chủ nghĩa duy lý đƣợc đẩy lên đỉnh điểm khi đề cao vai trò tuyệt đối của khoa học, thì hàng loạt các trào lƣu triết học phi lý tính ra đời để phản ứng lại.
Chủ nghĩa hiện sinh là một trong những học thuyết nằm trong trào lƣu phi lý tính hiện đại, nó kế thừa tất cả những yếu tố phi lý tính trong lịch sử tƣ tƣởng nhân loại, đặc biệt là các trào lƣu phi lý tính đƣơng thời: Chủ nghĩa duy ý chí (Voluntarism) của A. Chủ nghĩa duy ý chí của Schopenhauer đề cao vai trò tuyệt đối của chủ thể, coi “vũ trụ chỉ là cái nhìn của tôi” [12, tr. Đạo đức cá nhân theo ông không bị quy định bởi lý tính hay xã hội (nhƣ quan niệm của Kant và Hegel), mà đƣợc thúc đẩy, dẫn dắt bởi những ham muốn bản năng hoặc Ý chí sống (Will to Live). Chủ nghĩa duy ý chí là nguồn gốc sinh ra thuyết chủ thể tính (subjectivity) ở Chủ nghĩa hiện sinh.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ nghĩa trực giác của Bergson cho rằng tâm linh con ngƣời gồm hai phần: trí tuệ và trực giác. Tƣ duy, trí tuệ con ngƣời chỉ nhận thức đƣợc thế giới vật chất (thế giới của những sự vật có những hình thù tĩnh, những đƣờng nét chính xác, tuân theo những quy luật cơ học chính xác…), khi bƣớc vào lĩnh vực sự sống, nó hoàn toàn bất lực. Bởi vì, theo Bergson, sự sống là sự tiến hoá sáng tạo, liên tục sáng tạo, nó có tính năng động, tự chuyển động, biến đổi không ngừng do những động lực bên trong. Từ đó ông đƣa ra hai khái niệm quan trọng: Thời biến (Duration) và Dòng ý thức (Stream of conciousness) để hiểu sự sống.
Thời biến là cái trƣờng tồn qua những biến đổi và diễn biến của thời gian. Thời biến là yếu tố của sự vận động, sự tiến hoá của sự sống. Sự sống là liên tục, không thể chia cắt, không thể phá huỷ, quá khứ xâm nhập vào hiện tại, hợp thành một cái toàn vẹn không thể phân chia. Dòng ý thức đƣợc ông định nghĩa là “một câu duy nhất, có những dấu phảy, nhƣng không bao giờ có dấu chấm, bởi vì kỷ niệm của quá khứ hoà vào hiện tại ngay khi hình nhƣ hiện tại bỗng đoạn tuyệt với quá khứ” [21, tr.
Để nhận thức đƣợc sự sống cần phải có một phƣơng thức mới mà ông gọi là trực giác (intuition): đó là một kinh nghiệm siêu hình không cần môi giới, một phƣơng thức nhận thức có tính vô thức, một sự “hoà tan kỳ diệu” của khách thể với chủ thể. Triết học hiện sinh đã khai thác những yếu tố bản năng, trực giác (tức cái “thế giới bên trong” u uẩn ở con ngƣời) trong Học thuyết của Bergson. Phân tâm học của Freud không coi ý thức là cấu thành bản chất tâm thần con ngƣời, mà khẳng định cái vô thức (unconciousness) mới là cái bản chất, cái quyết định cuộc sống tâm thần. Cuộc sống con ngƣời theo Freud bị chi phối bởi cái vô thức: những ham muốn, đòi hỏi, nhu cầu mang tính bản năng của con ngƣời, trong đó bản năng tính dục (libido) xuất hiện từ thủa ấu thơ là căn bản và quyết định nhất.
Ông chia tinh thần con ngƣời thành ba bộ phận: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cái nó (the id): những nhu cầu tràn đầy khao khát bản năng cần đƣợc thoả mãn; cái tôi (the ego): cái có ý thức đƣợc hình thành nên từ kinh nghiệm sống hàng ngày; và cái siêu tôi (the supper ego): những thiết chế, lễ nghi, chuẩn mực đạo đức xã hội… Cái nó và cái siêu tôi là hai mặt đối lập xung đột với nhau dữ dội và liên tục. Cái tôi đóng vai trò kìm hãm cái nó hoặc làm cho cái nó biểu hiện ra dƣới những hình thức xã hội chấp nhận đƣợc. Nhiều triết gia hiện sinh cũng coi vô thức mới là bản chất đích thực của con ngƣời, còn ý thức là cái bề ngoài giả dối. Những quan niệm về tự do, nổi loạn, hiện sinh đích thực… của Chủ nghĩa hiện sinh rõ ràng có bóng dáng cái vô thức của Freud.
Hiện tượng học của Husserl có một vị trí đặc biệt đối với sự phát triển của Chủ nghĩa hiện sinh. Nó chính là phƣơng pháp chủ yếu mà hầu hết các triết gia hiện sinh sử dụng. Có thể nói nếu không có Hiện tƣợng học, Chủ nghĩa hiện sinh không thể xây dựng triết lý của mình thành một hệ thống hoàn chỉnh. Những nội dung cơ bản của Hiện tƣợng học sẽ đƣợc trình bày trong phần Phƣơng pháp của Chủ nghĩa hiện sinh.
Điều kiện lịch sử Các triết gia hiện sinh thƣờng tuyên bố rằng triết lý của họ đƣợc xây dựng trên những suy tƣ về chính cuộc đời của họ, không liên quan gì đến hoàn cảnh bên ngoài: “Tất cả tác phẩm của tôi chà xát lên bản thân tôi, chỉ trên một mình tôi và riêng tôi” (Kierkegaard) [21, tr.25], “Tôi viết sách của tôi bằng máu của tôi” (Nietzche) [21, tr. Nhƣng trên thực tế thì không hẳn nhƣ vậy. Marx trong Phê phán khoa kinh tế chính trị đã từng khẳng định: Ý thức không phải là cái gì khác hơn là tồn tại đƣợc ý thức.