chương 1 sẽ lần lượt trình bày: (1) tóm lượt một số công trình nghiên cứutrên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng thực hiện KTQTcũng như thực hiện KTQTtrong các doanh nghiệp, (2) đề cập đến một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của thực hiện KTQT đến hiệu quả kinh doanh trong DNNVV, (3) xác định khoảng trống nghiên cứu từ việc lược khảo các công trình nghiên cứu đã được r r r thực hiện trước. Các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện KTQT r r r r r r Kế toán, ngày nay, được coi là một bộ phận hữu ích để cung cấp thông tin thích hợp cho r r r r nhà quản trị để ra quyết định kinh doanh và nó không chỉ đuợc áp dụng r ộng rãi trong các tổ r r r r r chức kinh doanh đa quốc gia trên thế giới mà còn được sử dụng tro ng các DNg có quy mô vừa r r r r r r tại các nước đang phát t riển khác (Laitinen, 2003). KTQT đã và đang đóng vai trò quan trọng r r r r r trong hoạt động KDh của DNg (Ndwiga, 2011). Những thông tin do KTQTrihỗ trợ sẽ giúp nhà r r r quản lý hoạch định và điều hành DNg một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, việc thực hiện KTQTri r trong DNg sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động.Trên thế giới có nhiều học giả nghiên cứu r r r về nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện KTQT, như: Nghiên cứu của 2 tác giả AbdelKader M. (2008) “Ảnh hưởng của các đặc điểm r r của doanh nghiệp đến thực hiện kế toán quản trị’. Nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của 10 r r r r r khía cạnh đặc điểm bên trong và bên ngoài của DNg đối với thực hiện KTQTri của các DNg. r r r Các biến số liên quan đến ba loại đặc điẻm của công ty được xem xét trong nghiên cứu, đó là: r r r các đặc điểm bên ngoài (sự không chắc chắn của môi trường, quyền lực của khách hàng); đặc r r r r r điểm tổ chức (cơ cấu,chiến lược, quy mô cạnh tranh); và các đặc điểm xử lý (độ phức tạp của hệ thống, mức độ triển khai của sản xuất tiên tiến công nghệ (AMT), thực hiện các kỹ thuật quản l í chất luợng tổng thể (TQM), thực hiện các kỹ thuật Just-In-Time và khả năng dễ hỏng của sản phẩm).
Bảng câu hỏi được gửi đến 1.300 công ty được chọn từ lĩnh vực công nghiệp thực phẩm của Anh, chỉ có 280 phiếu khảo sát được phản hồi và chỉ có 245 phiếu hữu dụng. Phương pháp này khác với các nghiên cứu trước đây ở chỗ không kiểm tra mối liên quan giữa các yếu tố dự r r r r phòng mà nhằm tìm kiếm các mối quan hệ với mức độ phức tạp tổng hợp dựa trên sự quan tâm của người trả lời. Hơn nữa, 10 yếu tố dự phòng được xem xét trong nghiên cứu này bao gồm hai cấu trúc (tính dễ hư hỏng của sản phẩm và sức mạnh của khách hàng) chưa được khám phá trước đây. Kết quảchỉ ra rằng sự khác bịt về mức độ phúc tạp của KTQTri được gải thích đáng kể bởi sự thiếu quan tâm về môi trường, quyền lực của khách hàng, phan quyền, quy mô, AMT, TQM r r r r và JIT.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quyền lực của khách hàng nên được coi là r r r r một biến bên ngoài bổ sung trong mô hình lý thuyết dự phòng. Nghiên cứu này đóng góp cho sự cải thiện về các mối quan hệ giữa 10 yếu tố dự phòng và các kỹ thuật KTQT được sử dụng góp phần vào việc phát triển thêm một khuôn khổ dự phòng tích hợp giải thích các thay đổi trong đầu tư vào KTQT. Nghiên cứu của nhóm tác giả Wu và Boateng (2010) đã quan tâm đến “Những nhân tố tác động r r r đến thực hiện KTQT tại Trung Quốc”. Theo đó, một số các nhân tố đã được đề xuấc trong r r r nghiên cúư như là các yếu tố trong việc thực hiện KTQT trong tổ chức.
Chúng có thể được nhóm lại thành: (1) các yếu tố liên quan đến văn hóa, bao gồm: các quy tắc và thông lệ quản lý truyền thống; (2) các yếu tố liên quan đến ngành nghề, như: quy mô, ngành và tuổi của doanh nghiệp liên doanh; (3) các yếu tố hợp tác, như: đối tác nước ngoài, trong đó, kinh nghiệm của chủ nhà và đối tác nước ngoài; (4) các yếi tố liên quan đến nước chủ nhà, bao gồm: chính phủ, luật pháp và r r mức độ canh tranh thị truờng. Nghên cứu này cho thấy 4 yếu t ố có tác đông tích cực đến sự thay r đổi của việc thực hiện KTQT ở Trung Quốc. Đó là: các đối tác nước ngoài, quy mô của doanh nghiệp, và mức độ đào tạo / kiến thức của quản lý cấp cao và nhân viên kế toán. Tuy nhiên, kết qiả cho thấy không có sự hỗ trợ nào cho tính chuyên nghiẹp của nhân viên kế toán như là một yếu tố ảhh hưởng đến việc thực hiện KTQTrị trong các DNg.
r Nghiên cứu của Ahmad (2012) đề cập đến việc “Các nhân tố giải thích qui mô áp dụng thực hiện KTQTrị trong DNNVV của Malaysia”, kết quả thu được từ một cuộc khảo sát của các công ty r trong khu vực DNNVV dựa trên 110 DNNVV của Malaysia trong ngành sản xuất. Nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của công ty; cường độ cạnh tranh thị trường; cam kết của chủ sở hữu/người r r r r r r r r r r quản lý của công ty sản xuất và công nghệ tiên tiến có tác động mạnh đến việc thực hiện r r KTQTrị nhất định, tức là hệ thống chi phí và hệ thống đánh giá hiệu suất. Việc sử dụng KTQT linh hoạt hơn (hệ thống hỗ trợ quyết định và KTQT chiến lược) phần lớn gắn liền với cam kết r r r của chủ sở hữu / người quản lý. Nghiên cứu này giải thích dựa trên dự phòng cho mức độ sử r r r r r dụng KTQT và xác định nhân tố mới như cam kết của chủ sở hữu / người quản lý là một trong r r r r r r r r r r r những yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ thực hiện KTQT ở các đơn vị có lích thước vừa tại r r r r r r Malaysia.
Nghiên cứuc cho thấy sự gia tăng đáng kể của việc áp dụng KTQT này ở cả các DNNVV. Việc sử dụng phương thức KTQTrị truyền thống (gồm hệ thống chi phí và hệ thống r r r r r ngân sách và hệ thống đánh giá hiệu suất) cao hơn so với công cụ KTQT tiên tiến hơn (hệ r r r r r r r r thống hỗ trợ quyết định và kế toán quản trị chiến lược ). Nghiên cứuc cũng điều tra mức độ sử r r r r r r r r r r r dụng cụ thể của một loạt các công cụ KTQT cụ thể của các DNNVV ở Malaysia quy định chi tiết mức độ sử dụng các phương thức kế toán quản trị với năm tiêu chí của KTQT. Một lần nữa, kết quả xác nhận rằng việc sử dụng các phương thức KTQTrịcổ điển tương đối nhiều hơn so với việc sử dụng các phương thức KTQT được phát triển gần đây.
Các kỹ thuật KTQTrị dựa trên tài chính như ngân sách tài chính đầy đủ, các biện pháp hiệu quả tài chính, phân tích ưu thế sản phẩm và hệ thống chi phí thông thường: chi phí quá trình, biến phí và chi phí công việc, được r r r r r r sử dụng rộng rãi bởi cả DNVVV. Tác giả Erserim (2012) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức, đặc điểm của DNg và r r r r r môi trường bên ngoài của doanh nghiệp đối với thực hiện kế toán quản trị: một nghiên cứu r r r r r r r r r r r r r r thực nghiệm về doanh nghiệp công nghiệp ở Thổ Nhĩ Kỳ”. Bảng khảo sát đã được xử lý để ghi nhận dữ liệu từ 84 doanh nghiệp tại khu công nghiệp Izmir Ataturk, ngườiđược phỏng vấn là những kế toán trưởng của DNg bởi vì họ có kiến thức và kinh nghiệm trong việc thực hiện r KTQT trong doanh nghiệp. Tác giả đề xuất 2 nhóm nhân tố: đạc điểm moi trường (gồm: nhận r r thức về môi trường, tính không chắc chắn, nhận thức về mức độ cạnh tranh) và đặc điểm tổ chức (gồm: văn hóa tổ chức, tập trung hóa, chính thức hóa) tác động đến việc thực hiện KTQT.
Kết r quả khảo sát cho rằng văn hóa tổ chức và thực hiện KTQT có sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Hơn nữa, kết quả đã cho thấysự ràng buộc giữa thực hiện KTQTrị và số lượng nhân viên, độ tuổi và loại hình Kdh của DNg. Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng đưa ra kết luận: không có mối quan hệ nào giữa nhận thức về mức độ cạnh tranh và tính không chắc chắn của môi trường với việc r thực hiện KTQT. Trong nghiên cứu Các nhân tố giải thích việc thực hiện kế toán quản trị trong các DNNVV ở r r r r r r r r Malaysia của 2 tác giả Ahmad và Zabri (2015), giới hạn của nghiên cứu này là xác định các r nhân tố tác đôngj đến việc thực hiện KTQT trong các doanh nghiệp có quy mô vừa của Malaysia r trong lĩnh vực sản xuất.
Phương pháp định lượng đượcsử dụng trong nghiên cứu thông qua cuộc r khảo sát bằng bảng câu hỏi được gửi qua bưu điện được thực hiện đối với 500 công ty quy mô vừa tại Malaysia trong lĩnh vực sản xuất, tuy nhiên chỉ có 110 câu trả lời có đủ yết tố đưa vào phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô của công ty, cuờng độ cạhh tranh trên thị r r r r r r r r r trưòng, cam kết chủ sở hữu / người quản lý công ty và công nghệ sản xuất tiên tiến có tác động r r r r r r r r r r r r r r đáng kể đến việc áp dụng của một số công cụ KTQTrị nhất định. Hạn chế của nghiên cứu là r nghiên cứu chỉ tập trung vào các doanh nghiệp quy mô vừa và sử dụng khung lý thuyết dự phòng để giải thích việc thực hiện KTQT ở Malaysia. Nhóm tác giảTijani Amara và Samira Benelifa đã công cố công trình về “Ảnh huong của các yếu tố bên ngoài và bên trong đối với việc thực ihiện KTQTrị” được thực hiện vào năm 2017 tại r Tunisia.
Nghiên cứu dựa trên lý thuyết dự phòng để giải thích sự tác động của các nhân tố nội tại và môi trường bên ngoài đến với việc thực lhiện KTQTrị.