Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận Tóm lại, trong chương một, đề tài đã nêu lên tính cấp thiết của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, bố cục của bài nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở cho các chương tiếp theo trong đề tài. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 2.Mối quan hệ giữa các biến kinh tế thực- sản lượng công nghiệp và biến động thị trường chứng khoán. Fama và Schwert tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến kinh tế thực và thị trường chứng khoán và phát hiện ra rằng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trước tiên, hai ông cho rằng một dấu hiệu sụt giảm trong tăng trưởng nền kinh tế sẽ được phản ánh hầu hết và giá chứng khoán do đó có thể dùng giá chứng khoán làm một chỉ báo quan trọng cho nền kinh tế. Thứ hai, những thay đổi trong sản lượng công nghiệp sẽ thể hiện gián tiếp thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp do đó nếu các chỉ số này cho một cái nhìn lạc quan thì cũng đồng nghĩa thị trường chứng khoán cũng sẽ lạc quan. Khả năng sản xuất công nghiệp còn phụ thuộc chặt chẽ vào quá trình tích lũy tài sản thực, những tài sản này sẽ đóng góp vào khả năng tạo dòng tiền của doanh nghiệp. Các phát hiện của Chen, Roll và Ross (1986) dựa trên một danh mục các chứng khoán Mỹ đã chỉ ra rằng tăng sản lượng công nghiệp trong tương lai là một nhân tố quan trọng giúp giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và tác giả đã chứng minh rằng có một mối quan hệ đồng biến giữa các biến kinh tế thực vá giá cả chứng khoán.
Trong một nghiên cứu của Fama (1981) cũng cho thấy có mội mối quan hệ đồng biến mạnh mẽ giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng sản lượng công nghiệp.Lãi suất và thị trường chứng khoán Mukherjee và Naka (1995) đã cho thấy sự thay đổi dù là trong ngắn hạn hay dài hạn của lãi suất trái phiếu chính phủ cũng sẽ ảnh hưởng đến lãi suất phi rủi ro danh nghĩa và qua đó ảnh hưởng đến lãi suất chiết khấu và thị trường chứng khoán. Fama và Schwert (1997) đã quan sát và thấy được mối quan hệ giữa giá cả chứng khoán ở thời điểm hiện tại với giá trị trễ của lãi suất. Trong khi Reily và Brown (2000) lại làm vấn đề trở nên phức tạp đôi chút khi tuyên bố rằng dòng tiền vào thị trường 123doc 5 chứng khoán có thể thay đổi theo lãi suất và cũng không chắc chắn rằng liệu dòng tiền sẽ tăng hay giảm khi lãi suất thay đổi theo một hướng nào đó. Các nghiên cứu hiện nay về mối quan hệ giữa lãi suất và thị trường chứng khoán chưa cho thấy một đáp án rõ ràng.
Đường cong lãi suất và thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư trái phiếu thường bám sát tình hình nền kinh tế và lãi suất là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế. Các nhà đầu tư cổ phiếu thường chỉ tập trung vào tình hình và triển vọng của công ty mình nắm giữ cổ phiếu tuy nhiên họ luôn phải cảnh giác với những thay đổi trong lãi suất. Khi lãi suất thấp nhiều nhà đầu tư trước đây đã mua trái phiếu nhằm tìm kiếm sự an toàn thường có xu hướng bán trái phiếu để tìm kiếm thu nhập cao hơn từ thị trường chứng khoán, ngược lại khi nhà đầu tư cảm nhận được là họ có thể nhận được mức thu nhập cao hơn từ trái phiếu thì dòng tiền sẽ chảy khỏi thị trường chứng khoán. Khi đường cong lãi suất tăng dốc nó sẽ tạo áp lực giảm giá chứng khoán vì lãi suất của trái phiếu chình phủ sẽ tăng.
Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính chất lý thuyết trên thực tế không có nghĩa là khi đường cong lãi suất tăng cao sẽ không có các cơ hộ đầu tư vào chứng khoán, trên thực tế đây chỉ là một nhân tố mà các nhà đầu chứng khoán cần xem xét khi phân tích xu hướng thị trường chứng khoán. Lãi suất giảm có kích thích thị trường chứng khoán? Sự giao động trong lãi suất không phải lúc nào cũng nhận được sự phản ứng trái ngược mà đôi khi nó là một động thái cùng chiều hoặc cũng có thể là không phản ứng gì cả, chỉ khi nào lãi suất phản ánh đúng xu hướng chủ đạo của lạm phát trong nền kinh tế. Thông thường lãi suất giảm khi lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn và ngược lại. Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào thị trường chứng khoán mang lại nhiều lãi bởi vì trong trường hợp này lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng.
Lạm phát và thị trường chứng khoán Kết quả nghiên cứu của Fama và Schwert (1977), Chen, Ross và Roll (1986) đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa lạm phát và giá chứng khoán. Về căn bản, thị trường chứng khoán hoạt động dưới hai điều kiện: Tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. Nhưng nếu nền kinh tế phát triển mà lạm phát cao thì chưa chắc đã tốt cho thị trường chứng khoán. Khi mối nguy hại lạm phát tăng cao, các nhà phân tích đầu tư sẽ nghi ngờ về sự bền vững của nền kinh tế hay các báo cáo tăng trường việc làm.
Lý do họ lo sợ là dường như đang có một sự bùng nổ lạm phát, một sự phát triển giả tạo đã tạo nên bởi dễ dãi trong các khoản tín dụng, do chính phủ chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách cao và mở rộng cung tiền. Lạm phát và giá chứng khoán có mối quan hệ nghịch chiều, bởi lẽ xu hướng của lạm phát xác định tính chất tăng trưởng. Lạm phát cao luôn là dấu hiệu của một nền kinh tế đang tăng trưởng nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững trong khi đó thị trường chứng khoán như một chiết nhiệt kế đo sức khỏe của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá người dân sẽ không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi trong ngân hàng mà chuyển sang nắm giữ các tài sản ít rủi ro hơn như vàng, bất động sản hay ngoại tệ mạnh,….
Khiến một lượng lớn vốn nhãn rỗi đáng kể của xã hội nằm dưới dạng tài sản chết. Thiếu vốn đầu tư, không tích lũy để mở rộng sản xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung sẽ chậm lại. Lạm phát tăng cao còn ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp dù hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra bình thường, chi cổ tức nhưng tỷ lệ cổ tức khó gọi là hấp dẫn đối với nhà đầu tư khi lạm phát cao. Điều này khiến chứng khoán không còn là kênh đầu tư sinh lợi hấp dẫn.
Leeb và Conrad (1996) đã thống kê tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng của thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn từ 1929 đến 1981 và nêu lên mối quan hệ: “Lạm phát tăng cao luôn là kẻ thù của thị trường cổ phiếu”. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Gan, Lee và Zhang (2006), Jiranyakul (2009). Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2. Một số nghiên cứu thực nghiệm tại các nước phát triển Mukherjee và Naka (1995) sử dụng mô hình tự hồi quy Vecto (Vector Error Correction Model – VECM) để nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán tại Nhật Bản với các nhân tố vĩ mô như tỷ giá, lạm phát, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất trái phiếu chính phủ trong dài hạn, lãi vay trung bình trên thị trường vay tiền tệ Tokyo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa tỷ suất sinh lợi với các biến như tỷ giá, chỉ số sản xuất công nghiệp, cung tiền, trong khi đó tỷ suất sinh lợi và lạm phát có mối tương quan ngược chiều. Tuy nhiên mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi và lãi suất không rõ ràng, cụ thể là mối tương quan nghịch biến giữa tỷ suất sinh lợi với lãi suất trái phiếu chính phủ trong khi đó là mối quan hệ đồng biến giữa tỷ suất sinh lợi và lãi suất vay trung bình. Du (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi chứng khoán cho thị trường Mỹ. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu nghiên cứu theo quý trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1999 với các biến lạm phát được tính từ chỉ số giá tiêu dùng (CPI- Consumer Price Index) sau khi điều chỉnh yếu tố mùa vụ, chỉ số chứng khoán được trích xuất từ COMPUSTAT với mô hình VAR được sử dụng.
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong cơ chế chính sách tiền tệ và các cú sốc kinh tế thực có liên quan mật thiết với những biến động trong thị trường chứng khoán.Trong đó tác giả lưu ý những thay đổi trong chính sách tiền tệ có liên quan đến lạm phát giải thích tốt cho các biến động trong thị trường chứng khoán Mỹ. Nghiên cứu của Morelli (2002) tại thị trường chứng khoán Anh về mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và thị trường chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1967 đến tháng 12 năm 1995. Các biến vĩ mô gồm có chỉ số sản xuất công nghiệp, cung tiền, lạm phát, tỷ giá. Nghiên cứu sử dụng mô hình GARCH nhằm đo lường biến động của các biến nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng biến động của các biến vĩ mô không ảnh hưởng đến biến động thị trường chứng khoán. 123doc 8 Binswanger (2004) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa những hoạt động kinh tế thực và sự biến động trong thị trường chứng khoán cho thị trường Mỹ, và các nhóm nước khác thuộc G7. Trong đó tác giả sử dụng mô hình VAR, ECM và hồi quy OLS với các biến được sử dụng là GDP, sản lượng công nghiệp đại diện cho hoạt động kinh tế thực, và chỉ số chứng khoán đại diện ở các thị trường của các nước nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ cùng chiều mạnh mẽ giữa các hoạt động kinh tế thực với sự biến động trong thị trường chứng khoán ở Mỹ và Nhật, Canada tuy nhiên kết quả lại cho thấy có một mối quan hệ yếu giữa hai biến số này ở Pháp, Ý, và Anh.