Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề cơ sở lý luận cơ bảnvề rừng và ảnh hưởng của chính sách quản lý, bảo vệ rừng đến phát triển rừng 1.Một số vấn đề cơ sở lý luận cơ bản về rừng 1.Khái niệm về rừng Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 của Việt Nam, rừng được định nghĩa như sau: Rừng là một hệ sinh thái gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ sinh vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Phân loại rừng Theo thông tư Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì rừng có thể được phân thành các loại tùy theo từng tiêu chí, cụ thể như sau: [2] * Phân loại rừng theo mục đích sử dụng 1.
Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường. Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường. * Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành 1.
Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 a) Rừng nguyên sinh: là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai; Cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định. b) Rừng thứ sinh: là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi. - Rừng phục hồi: là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt; - Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác.
Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm: a) Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng; b) Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; c) Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau. * Phân loại rừng theo điều kiện lập địa 1. Rừng núi đất: là rừng phát triển trên các đồi, núi đất.
Rừng núi đá: là rừng phát triển trên núi đá, hoặc trên những diện tích đá lộ đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt. Rừng ngập nước: là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên ngập nước hoặc định kỳ ngập nước. a) Rừng ngập mặn: là rừng phát triển ven bờ biển và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ. b) Rừng trên đất phèn: là rừng phát triển trên đất phèn, đặc trưng là rừng Tràm ở Nam Bộ.
c) Rừng ngập nước ngọt: là rừng phát triển ở nơi có nước ngọt ngập thường xuyên hoặc định kỳ. Rừng trên đất cát: là rừng trên các cồn cát, bãi cát. * Phân loại rừng theo loài cây 1. Rừng gỗ: là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ.
a) Rừng cây lá rộng: là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây. - Rừng lá rộng thường xanh: là rừng xanh quanh năm; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 - Rừng lá rộng rụng lá: là rừng có các loài cây rụng lá toàn bộ theo mùa chiếm 75% số cây trở lên; - Rừng lá rộng nửa rụng lá: là rừng có các loài cây thường xanh và cây rụng lá theo mùa với tỷ lệ hỗn giao theo số cây mỗi loại từ 25% đến 75%. b) Rừng cây lá kim: là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây. c) Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim: là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ 25% đến 75%.
Rừng tre nứa: là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa như: tre, mai, diễn, nứa, luồng, vầu, lô ô, le, mạy san, hóp, lùng, bương, giang, v. Rừng cau dừa: là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa. Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa a) Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa: là rừng có cây gỗ chiếm > 50% độ tàn che; b) Rừng hỗn giao tre nứa - gỗ: là rừng có cây tre nứa chiếm > 50% độ tàn che. * Phân loại rừng theo trữ lượng 1.
Đối với rừng gỗ a) Rừng rất giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha; b) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201- 300 m3/ha; c) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m3/ha; d) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha; đ) Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha. Đối với rừng tre nứa: Rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ. Theo đó rừng được chia thành rừng nứa; vầu; tre, luồng và lồ ô. Vai trò của rừng 1.
Vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái Rừng là thành phần quan trọng của môi trường sinh thái, với thảm thực vật phong phú, đa dạng, độ che phủ cao, rừng có tác dụng trên nhiều mặt như: - Rừng được coi là công cụ góp phần giảm lũ tăng lưu lượng kiệt của sống, suối; do rừng giữ lại được một phần nước qua các tán lá, thân và rễ cây để thấm vào lòng đất, nên nó hạn chế được đỉnh lũ và làm giảm sức công phá của nước mưa đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 với lớp đất bề mặt. Việc điều tiết nước của rừng còn góp phần quan trọng trong việc tăng lưu lượng kiệt về mùa cạn, tăng năng lực tưới tiêu cho các công trình thủy lợi,…Nhờ vậy, nguồn nước cảu các sông, hồ, ao,. giữ được nước vào mùa khô cung cấp cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và nước phục vụ sinh hoạt cho cuộc sống của con người. - Rừng có tác dụng chắn song, chắn gió, chắn cát bay nhằm bảo vệ các công trình (thủy điện, đập, đê biển, kè cống…), bảo vệ nhà cửa, ruộng đồng của nhân dân.
- Rừng có chức năng điều hòa khí hậu, làm sạch môi trường sinh thái; rừng được coi là “Lá phổi xanh của nhân loại”, là các nhà máy khổng lồ sản xuất ra khí O2 cung cấp cho sự sống của nhân loại và hấp thụ khí CO2 do sản xuất và sinh hoạt thải ra, tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường sống, góp phần giảm tác hại của hiệu ứng nhà kính, chống biến đổi khí hậu toàn cầu. - Rừng là kho dự trữ và bảo tồn thiên nhiên, hệ sinh thái của quốc gia, là ngân hàng bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học. Vai trò của rừng đối với kinh tế - xã hội Trong các sản phẩm do tài nguyên rừng mang lại phải kể đến gỗ. Sản phẩm gỗ cung cấp cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và trong mỗi gia đình.
Ngày nay, hầu hết tất cả các ngành đều có dùng đến gỗ, vì nó là nguyên liệu dễ gia công, chế biến và nhiều tính năng ưu việt khác nên được nhiều người sử dụng. Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác động của khoa học công nghệ, con người đã sản xuất ra nhiều sản phẩm thay thế gỗ. Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm từ gỗ vẫn không ngừng gia tăng. Ngoài sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ như tre, nứa, song, mây, các loại đặc sản rừng, động thực vật rừng có giá trị cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Các động vật từ rừng là những sản phẩm quý hiếm và có giá trị kinh tế cao; đối với thực vật rừng thì có nhiều loại được dùng làm thực phẩm như: Nấm, mộc nhĩ, măng, các loại rau rừng… Rừng còn là nguồn cung cấp các dược liệu quý hiếm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Rừng cung cấp gỗ và các đặc sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cho nên đã tạo ra nguồn thu nhập về tài chính cho ngân sách nhà nước, góp phần vào quá trình tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Rừng cũng là nguồn thu nhập chính của cư dân sống gần rừng. Việc thực hiện chính sách về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng động dân cư địa phương đã thu hút người dân tham gia vào các hoạt động trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác và chế biến lâm sản, góp phần tạo công ăn việc làm cho một bộ phận người dân, giải quyết một vấn đề bức xúc hiện nay của trung du và miền núi.
Hơn nữa, nếu tôn trọng vai trò chính thức của rừng, tạo điều kiện cho rừng được khôi phục, phát triển là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội ổn định. Vai trò của rừng đối với văn hóa, du lịch và nghiên cứu khoa học Rừng và đất rừng gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu người dân sống trong và gần rừng. Nơi đây là cái nôi sản sinh ra các dòng văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng, là nguồn sống của cả cộng đồng, tạo ra chất keo gắn bó cộng đồng, đoàn kết đấu tranh giữ gìn đất nước. Rừng còn là nơi chứa đựng nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị văn hóa cao, có ý nghĩa lịch sử văn hóa của dân tộc.