Tổng quan nghiên cứu
Thịt lợn luôn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam, chiếm xấp xỉ 74% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng với quy mô đàn cả nước đạt trên 26,7 triệu con trong giai đoạn 2011 - 2014. Nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống, tỷ lệ lợn nái ngoại thuần và nái lai ngoại đã gia tăng nhanh chóng, đạt 849.000 con, chiếm 21,7% tổng đàn nái vào năm 2014. Tuy nhiên, các trang trại chăn nuôi công nghiệp đang phải đối mặt với tỷ lệ loại thải nái hậu bị rất cao, dao động từ 30% đến 50%, trong đó có tới 45% đến 50% cá thể bị loại thải ngay sau lứa đẻ đầu tiên do không biểu hiện động dục hoặc mất khả năng mang thai.
Thực trạng này xuất phát chủ yếu từ chế độ nuôi dưỡng đàn nái hậu bị chưa hợp lý trong giai đoạn chuẩn bị phối giống, dẫn đến sự mất cân đối giữa tốc độ sinh trưởng mô nạc và mức độ tích lũy mô mỡ dự trữ. Trong giới học thuật và thực tiễn sản xuất, vấn đề áp dụng chế độ cho ăn tự do hay ăn hạn chế đối với lợn hậu bị vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chăn nuôi của tác giả Ngụy Thị Vân tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm xác định chế độ nuôi dưỡng tối ưu cho hai tổ hợp lai ngoại Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace.
Công trình được tiến hành thực nghiệm từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2016 tại hai cơ sở chăn nuôi quy mô lớn: Trại lợn giống ngoại Phổ Yên (Thái Nguyên) và Trại lợn Đại Phượng (Nghệ An). Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn then chốt trong việc chuẩn hóa quy trình chăm sóc, tối ưu hóa độ dày mỡ lưng đạt ngưỡng 15 - 18 mm, giảm tiêu tốn thức ăn trên mỗi kg lợn con cai sữa và nâng cao tuổi thọ sinh sản của đàn nái.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống tiêu chuẩn nhu cầu dinh dưỡng của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (NRC, 1998) kết hợp với các mô hình năng lượng của Whittemore và Noblet. Nhu cầu năng lượng trao đổi duy trì của lợn nái được xác định theo khối lượng trao đổi cơ thể, trung bình đạt 106 kcal ME/kg BW^0,75 mỗi ngày. Về mặt sinh lý dinh dưỡng, việc tích lũy 1 kg mô nạc tiêu tốn khoảng 15 MJ DE từ thức ăn, trong khi tích lũy 1 kg mô mỡ đòi hỏi nguồn năng lượng cao gấp hơn 3 lần, tương đương 50 MJ DE.
Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết kích thích rụng trứng thông qua chế độ dinh dưỡng (hiện tượng Flushing do Hughes và Vanley nghiên cứu). Việc tăng khẩu phần ăn vào giai đoạn 10 đến 14 ngày trước khi phối giống giúp kích thích nồng độ insulin và hormone LH trong máu, làm tăng từ 1,6 đến 2,2 tế bào trứng rụng mỗi chu kỳ. Các khái niệm học thuật trung tâm trong công trình bao gồm: năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP), axit amin tiêu hóa (lysine, methionine, threonine), độ dày mỡ lưng tại điểm P2 (đo tại vị trí xương sườn số 13, cách sống lưng 6,5 cm) và tỷ lệ tiêu tốn thức ăn (FCR).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu 144 lợn cái hậu bị lai gồm 72 cá thể Landrace x Yorkshire và 72 cá thể Yorkshire x Landrace có khối lượng bắt đầu đồng đều 30 ± 0,6 kg tại thời điểm 80 ngày tuổi. Phương pháp chọn mẫu áp dụng thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Randomized Design - CRD). Tại mỗi trại chăn nuôi, 36 cá thể của mỗi giống được chia đều vào 3 lô thí nghiệm tương ứng 4 lần lặp lại (4 con/ô chuồng): Lô 1 cho ăn tự do; Lô 2 cho ăn hạn chế 90% so với ăn tự do; Lô 3 cho ăn hạn chế 80% so với ăn tự do trong giai đoạn từ 81 kg đến 10 ngày trước phối giống lần đầu (10 ngày trước phối giống đều cho ăn tự do). Khẩu phần thí nghiệm duy trì mức năng lượng 3265 kcal ME/kg và protein thô từ 13,80% đến 16,30%.
Số liệu thực nghiệm được thu thập từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2016 và xử lý thống kê bằng mô hình tuyến tính tổng quát (ANOVA-GLM) trên phần mềm Minitab phiên bản 14, kết hợp kiểm định so sánh giá trị trung bình Tukey-Test ở độ tin cậy 95% (P < 0,05). Lý do lựa chọn mô hình ANOVA-GLM là nhằm kiểm soát đồng thời các yếu tố độc lập gồm giống, chế độ nuôi dưỡng và tương tác đa biến, đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan của kết luận khoa học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, chế độ ăn tạo ra sự khác biệt rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể khi phối giống lần đầu (P < 0,05). Tại trại Phổ Yên (Thái Nguyên), lợn hậu bị ăn hạn chế 90% đạt tốc độ tăng trọng trung bình 666 g/ngày và khối lượng phối giống 134,8 kg; mức tăng trọng này thấp hơn 3,75% so với nhóm ăn tự do (692 g/ngày; 137,1 kg) nhưng cao hơn 8,82% so với nhóm ăn hạn chế 80% (612 g/ngày; 129,1 kg). Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận tại trại Đại Phượng (Nghệ An) khi nhóm ăn hạn chế 90% đạt tăng trọng 650 g/ngày và khối lượng phối giống 133,4 kg, vượt trội so với mức 595 g/ngày của nhóm hạn chế 80%.
Thứ hai, độ dày mỡ lưng tại vị trí P2 và tuổi phối giống chịu tác động trực tiếp từ khẩu phần ăn. Nhóm lợn ăn hạn chế 90% đạt độ dày mỡ lưng chuẩn 16,06 - 16,50 mm cùng độ tuổi phối giống hợp lý từ 238,4 đến 240,5 ngày. Nhóm ăn hạn chế 80% có độ dày mỡ lưng mỏng hơn rõ rệt (15,24 - 15,70 mm) và bị kéo dài tuổi phối giống lên 242,3 - 244,7 ngày; trong khi nhóm ăn tự do tích lũy mỡ lưng lên tới 16,77 - 17,20 mm, dễ gây thoái hóa mô tuyến vú.
Thứ ba, hiệu quả sử dụng thức ăn và năng suất sinh sản ở cả hai lứa đẻ đầu tiên của nhóm ăn hạn chế 90% đạt mức tối ưu. Khối lượng toàn ổ lợn con cai sữa của nhóm này cao nhất ở cả lứa 1 và lứa 2, đồng thời lượng thức ăn tiêu tốn trên 1 kg lợn con cai sữa đạt giá trị thấp nhất.
Thứ tư, không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê (P > 0,05) giữa hai tổ hợp lai Yorkshire x Landrace và Landrace x Yorkshire về tuổi thành thục sinh dục (181 - 185 ngày; khối lượng 96,9 - 100,1 kg), khả năng tăng khối lượng và các chỉ tiêu năng suất sinh sản khi nuôi trong cùng điều kiện.
Thảo luận kết quả
Hiệu quả vượt trội của chế độ ăn hạn chế 90% được giải thích bởi cơ chế cân bằng dinh dưỡng. Việc kiểm soát 10% khẩu phần ăn từ giai đoạn 81 kg giúp hạn chế tích mỡ thừa ở giai đoạn chuẩn bị sinh sản, giữ vóc dáng nái ở mức 130 - 140 kg tại lần phối giống thứ hai hoặc thứ ba. Sau đó, việc cho ăn tự do trong 10 ngày trước phối giống (cơ chế bốc mồi) tạo xung năng lượng tức thời, kích hoạt tuyến yên tiết hormone kích thích nang trứng và rụng trứng tối đa mà không gây béo phì.
Kết quả này hoàn toàn nhất quán với nghiên cứu của George Foxcroft và Frank Aherne khi khuyến cáo tốc độ sinh trưởng tối ưu cho lợn hậu bị nằm trong khoảng 550 - 800 g/ngày để kéo dài tuổi thọ khai thác. Các dữ liệu này có thể được trình bày một cách trực quan qua biểu đồ tương quan hai trục giữa độ dày mỡ lưng P2 và tuổi phối giống, kết hợp bảng thống kê phân tích phương sai hai nhân tố nhằm minh chứng rõ ràng sự tương tác giữa chế độ dinh dưỡng và năng suất sinh sản.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, áp dụng quy trình cho ăn ba giai đoạn định lượng cho nái hậu bị ngoại: cho ăn tự do từ 30 đến 80 kg; chuyển sang chế độ ăn hạn chế 90% từ 81 kg đến trước phối giống 10 ngày với định mức 2,60 - 2,68 kg/con/ngày (giai đoạn 50 kg đến động dục lần đầu) và 2,69 - 2,77 kg/con/ngày (giai đoạn động dục lần đầu đến trước phối); thực hiện bởi kỹ thuật viên dinh dưỡng nhằm giảm 5% đến 8% chi phí thức ăn hậu bị.
Thứ hai, thực hiện kỹ thuật bốc mồi dinh dưỡng bằng cách cho nái ăn tự do hoàn toàn trong đúng 10 ngày trước thời điểm phối giống dự kiến; hướng tới mục tiêu tăng thêm từ 1,5 đến 2,0 trứng rụng trên mỗi chu kỳ động dục; giao trách nhiệm cho nhân viên phụ trách thụ tinh nhân tạo theo dõi sát chu kỳ động dục 21 ngày.
Thứ ba, chuẩn hóa quy trình kiểm soát thể trạng bằng thiết bị siêu âm đo độ dày mỡ lưng P2 tại các mốc 50 kg, động dục lần 1 và khi phối giống; mục tiêu đảm bảo độ dày mỡ lưng đạt 15 - 18 mm và khối lượng cơ thể đạt 110 - 140 kg lúc phối; thực hiện định kỳ bởi tổ kỹ thuật giống trang trại trước khi quyết định đưa nái vào sản xuất.
Thứ tư, duy trì công thức thức ăn cám viên đạt năng lượng trao đổi 3265 kcal ME/kg, tỷ lệ protein thô 13,80% - 16,30% và lysine tiêu hóa 0,55% - 0,71% theo chuẩn NRC 1998; giám đốc kỹ thuật và bộ phận kiểm soát chất lượng có trách nhiệm kiểm tra định kỳ hàng tháng nguyên liệu thức ăn đầu vào.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là các chủ trang trại, giám đốc điều hành và quản lý kỹ thuật tại các trang trại chăn nuôi lợn quy mô công nghiệp. Luận văn cung cấp giải pháp thực chứng giúp hạ tỷ lệ loại thải nái hậu bị từ mức 40% xuống dưới 20%, tối ưu hóa chi phí cám nuôi và gia tăng sản lượng thịt lợn con cai sữa trên mỗi nái/năm.
Nhóm thứ hai là các chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi và kỹ sư công nghệ tại các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi. Công trình cung cấp hệ thống thông số khoa học chuẩn xác về năng lượng trao đổi (3265 kcal ME/kg) và tỷ lệ cân đối axit amin tiêu hóa cho từng giai đoạn sinh trưởng của nái hậu bị lai ngoại.
Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y và Công nghệ sinh học động vật. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) và xử lý dữ liệu sinh học bằng mô hình ANOVA-GLM trên phần mềm Minitab.
Nhóm thứ tư là cán bộ khuyến nông, bác sĩ thú y vùng và chuyên viên tư vấn kỹ thuật nông nghiệp. Tài liệu đóng vai trò cẩm nang hướng dẫn chuyển giao quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng chuẩn hóa, hỗ trợ xây dựng mô hình chăn nuôi nái hậu bị bền vững tại các địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao không nên cho lợn cái hậu bị ăn tự do liên tục đến lúc phối giống?
Việc cho ăn tự do liên tục làm lợn tăng trọng quá mức và tích lũy mỡ lưng P2 vượt quá 17 mm. Tình trạng thừa mỡ gây cản trở phát triển mô tuyến vú, dẫn đến giảm sản lượng sữa ở lứa đẻ đầu tiên, làm tăng nguy cơ đẻ khó và khiến tỷ lệ loại thải nái sau lứa 1 tăng cao.
Mức ăn hạn chế 90% được xác định và điều chỉnh như thế nào?
Định mức ăn hạn chế 90% được tính bằng 90% lượng thức ăn thu nhận trung bình của 3 ngày ăn tự do trước đó. Trong thực tế thí nghiệm, định mức này tương ứng từ 2,60 đến 2,68 kg thức ăn/con/ngày ở giai đoạn từ 50 kg đến động dục lần 1, và từ 2,69 đến 2,77 kg/con/ngày ở giai đoạn tiếp theo.
Hai tổ hợp lai Yorkshire x Landrace và Landrace x Yorkshire có sự khác biệt về sinh trưởng không?
Kết quả kiểm định ANOVA-GLM khẳng định không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa hai giống về tốc độ tăng trọng (637 - 659 g/ngày), tuổi động dục lần đầu (181 - 185 ngày) và năng suất sinh sản. Do đó, các trang trại có thể áp dụng chung một công thức dinh dưỡng cho cả hai tổ hợp lai.
Kỹ thuật bốc mồi trước phối giống 10 ngày mang lại hiệu quả gì?
Biện pháp bốc mồi dinh dưỡng bằng cách cho ăn tự do trong 10 ngày trước phối giống làm tăng nồng độ insulin và hormone LH trong máu. Quá trình này kích thích tăng thêm từ 1,6 đến 2,2 tế bào trứng rụng mỗi chu kỳ, nâng cao tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh sống trên mỗi ổ.
Tiêu chuẩn thể trạng lý tưởng của nái hậu bị khi phối giống lần đầu là gì?
Lợn hậu bị đạt chuẩn phối giống khi bước vào chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3, đạt độ tuổi từ 238 đến 241 ngày, khối lượng cơ thể dao động từ 130 đến 140 kg và độ dày mỡ lưng P2 duy trì trong khoảng 15 đến 18 mm.
Kết luận
- Chế độ cho ăn hạn chế 90% ở giai đoạn từ 81 kg kết hợp ăn tự do 10 ngày trước phối giống là giải pháp nuôi dưỡng tối ưu nhất cho lợn nái hậu bị lai ngoại.
- Phương pháp này duy trì tốc độ sinh trưởng lý tưởng ở mức 650 - 666 g/ngày, độ dày mỡ lưng P2 đạt 16,06 - 16,50 mm và khối lượng phối giống đạt chuẩn 133,4 - 134,8 kg.
- Năng suất sinh sản ở cả hai lứa đẻ đầu đạt hiệu quả cao nhất với khối lượng lợn con cai sữa/ổ cao nhất và tiêu tốn thức ăn trên 1 kg lợn con cai sữa thấp nhất.
- Hai tổ hợp lai Landrace x Yorkshire và Yorkshire x Landrace hoàn toàn tương đồng về các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản trong cùng điều kiện chăm sóc.
- Các doanh nghiệp và trang trại chăn nuôi nên áp dụng ngay quy trình dinh dưỡng này trong chu kỳ sản xuất tới nhằm giảm thiểu chi phí cám, hạ tỷ lệ loại thải đàn nái và tối đa hóa lợi nhuận.