ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu báo cáo của Cục Chăn nuôi (2014), tổng đàn lợn đạt trên 26,7 triệu con, tăng bình quân 0,04%/năm, giảm 17,88% so với kế hoạch giai đoạn năm 2011- 2015. Trong tổng số sản phẩm thịt của ngành chăn nuôi năm 2014 thì thịt lợn chiếm tương ứng khoảng 74% tổng sản lượng thịt hơi. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2014 đạt 3,28 triệu tấn tăng 1,2% so với năm 2013 (đạt 3,22 triệu tấn) và 3,0% so với năm 2012 (đạt 3,16 triệu tấn) và tăng trưởng sản lượng bình quân 2,1%/năm. Có được tăng trưởng như vậy là nhờ chất lượng lợn giống đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua.
Nhiều giống mới có năng suất và chất lượng thịt cao đã được nhập khẩu vào Việt Nam. Năm 2014, tổng số lợn nái trong cả nước khoảng 3,914 triệu con và đàn lợn nái ngoại là 849 ngàn con chiếm khoảng 21,7% tổng đàn nái. Với xu hướng phát triển chăn nuôi lợn ngoại như vậy thì việc nghiên cứu chế độ ăn phù hợp cho các nhóm giống lợn ngoại nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội là rất cần thiết. Việc xác định các mục tiêu năng suất sinh sản là điều quan trọng trong chăn nuôi lợn nái.
Theo Julian (2001), mục tiêu thứ nhất là phải đạt được 2,4 lứa/nái/năm, mỗi chu kỳ bao gồm 116 ngày mang thai, 18 - 28 ngày nuôi con, khoảng cách từ lúc cai sữa đến phối giống lại thành công là 6 - 9 ngày. Mục tiêu thứ hai là số lợn con cai sữa/nái/lứa là 10,5 (số lợn con sinh ra là 11) đối với lợn nái đẻ trên 1 lứa và 10 (số lợn con sinh ra là 10,5) đối với nái hậu bị. Như vậy, mỗi con lợn nái sẽ đạt khoảng 24,5 lợn con cai sữa/năm và năng suất cho vòng đời lợn nái trung bình là 60 lợn con cai sữa và độ tuổi loại thải tối thiểu là 3 năm. Tuy nhiên, những mục tiêu này rất khó đạt được là vì tỷ lệ loại thải lợn nái ở hầu hết các trang trại không nhỏ vào khoảng 30 - 50% (Thacker, 1999; Young, 2003), trong số đó khoảng 45 - 50% lợn hậu bị bị loại thải sau lứa đẻ thứ nhất và 35% ở lứa đẻ thứ hai (Lucia et al.
Lý do loại thải này chủ yếu vì sau lứa đẻ thứ nhất lợn hậu bị không biểu hiện động dục và không có chửa. Điều này dẫn đến kết quả là đàn nái hậu bị thay thế chiếm một tỷ lệ đáng kể trong đàn lợn giống và bất kỳ sự cải tiến nào về khả năng sinh sản của chúng đều ảnh hưởng lớn 1 đến năng suất sinh sản của toàn đàn. Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của đàn nái cơ bản, chế độ nuôi dưỡng lợn cái hậu bị từ khi chọn lọc đến lần phối giống đầu tiên đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vậy chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn hậu bị thay thế cần được chú ý và quan tâm. Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc nuôi dưỡng lợn cái hậu bị nhưng vẫn còn nhiều tranh luận, đặc biệt về vấn đề nuôi lợn cái hậu bị theo chế độ ăn tự do hay ăn hạn chế? Xuất phát từ thực tiễn việc tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng chế độ nuôi dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái hậu bị (Yorkshire x Landrace) và (Landrace x Yorkshire) trong điều kiện chăn nuôi trang trại” là rất cần thiết.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho lợn cái hậu bị YL, LY trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại trại lợn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và trại lợn Đại Phượng, xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI NGOẠI Ở VIỆT NAM Việt Nam là nước có truyền thống lâu đời về chăn nuôi lợn và nằm trong số 10 nước có số đầu lợn lớn nhất thế giới. Kết quả công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy số lượng đàn lợn từ năm 2010 đến năm 2014 có sự tăng trưởng hằng năm nhưng không nhiều dao động trong khoảng từ 26,26 - 27,37 triệu con.
Như vậy, có thể thấy rằng đàn lợn Việt Nam đang có xu hướng duy trì ổn định về mặt số lượng. Số lượng lợn và sản lượng thịt lợn hơi của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Số lượng lợn nghìn con 27.761,6 Sản lượng nghìn tấn 3.330,6 thịt lợn hơi Nguồn: Tổng cục thống kê (2014) Nhìn tổng thể, số lượng đàn nái có xu hướng giảm dần qua các năm từ 4,338 triệu con năm 2006 giảm xuống còn 3,914 triệu con năm 2014. Tuy nhiên, tỷ lệ đàn nái ngoại trong tổng đàn có xu hướng tăng lên từ 10,2% năm 2006 tăng lên 21,7% năm 2014. Đây là những giống lợn đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng đàn lợn.
Việc nhập nội các nguồn gen có năng suất cao giúp cải thiện rất nhiều đến năng suất, chất lượng chung của đàn lợn. Đàn nái lai đang có xu hướng giảm dần từ 77,2% năm 2006 giảm xuống còn 66,0% năm 2014. Hiện nay, trên cả nước có 4.293 trang trại chăn nuôi lợn, sản lượng thịt từ các trang trại đạt khoảng 40 – 45% tổng sản lượng thịt hơi trên thị trường. Chăn nuôi lợn trang trại đang ngày một phát triển, dần thể hiện vai trò của chăn nuôi hiện đại.
Rất nhiều trang trại lớn với quy mô hàng ngàn nái hiện đã và đang xuất hiện ngày một nhiều. Chăn nuôi trang trại chính là loại hình then chốt giúp thúc đẩy nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn do được đầu tư lớn về chuồng trại, con giống, kỹ thuật. Chăn nuôi nông hộ còn khoảng 4 triệu hộ. Cùng với sự phát triển chăn nuôi nông hộ có xu hướng giảm dần.
Cơ cấu đàn nái trong tổng đàn giai đoạn 2006 - 2014 Tổng số Nái ngoại Nái lai Nái nội con Số lượng Tỷ lệ trong Số lượng Tỷ lệ trong Số lượng Tỷ lệ Năm (1000 con (1000 tổng đàn con (1000 tổng đàn con (1000 trong tổng 2006 con) con) (%) con) (%) con) đàn (%) 4338,0 442,5 10,2 3348,1 77,2 547,5 12,6 2007 3801,6 425,8 11,2 2881,6 75,8 494,2 13,0 2008 3950,1 484,3 12,3 2968,3 75,1 497,5 12,6 2009 4169,5 550,2 13,2 3102,1 74,4 517,2 12,4 2010 4158,8 620,2 14,9 3020,1 72,6 518,5 12,5 2011 4047,1 667,8 16,5 2873,4 71,0 505,9 12,5 2012 4025,6 700,4 17,4 2826,0 70,2 499,2 12,4 2013 3916,0 776,0 19,8 2670,1 68,2 469,9 12,0 2014 3913,9 850,0 21,7 2582,9 66,0 481,0 12,3 Nguồn: Tổng cục thống kê (2015) Trong chăn nuôi lợn, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi đã được cân bằng dinh dưỡng như năng lượng/protein, cân bằng acid-amin, vitamin, khoáng đa lượng, vi lượng và áp dụng chuồng nuôi kín đã làm tăng trưởng khối lượng giết thịt của lợn trong 5 năm gần đây cao hơn 13%. Tiêu tốn thức ăn chăn nuôi giảm từ 2,9 - 3,0 kg xuống 2,7 - 2,8 kg thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể. Theo định hướng Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến năm 2020 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, chăn nuôi nông hộ phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu môi trường. Đóng góp của phương thức chăn nuôi trang trại năm 2020 là đối với lợn số lượng đầu con có xu hướng tăng từ 30% đến 52%, sản lượng thịt từ 40% tăng lên 60%.
Chăn nuôi lợn chuyển dịch theo hướng tăng trưởng nóng sang hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi. Theo dự kiến kế hoạch những năm tới, cơ cấu đàn giống, tỷ lệ nái ngoại chiếm 19,8% năm 2013 tăng lên khoảng 30% năm 2020. NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN CỦA LỢN 2. Nhu cầu năng lượng * Nhu cầu năng lượng của lợn con Sinh trưởng của lợn con chủ yếu là sinh trưởng mô nạc.
Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con được quyết định bởi tốc độ sinh trưởng mô nạc. Hai yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của lợn con là năng lượng và protein (axit amin) (Bùi Quang Tuấn và Đặng Thúy Nhung, 2002). Để có cơ 4 sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con. Theo tác giả Lucac (1982) thì mức năng lượng cần bổ sung qua các giai đoạn cho lợn con như sau: Tuần Bảng 2.
Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con Khối lượng Năng lượng tiêu hóa hàng ngày của mỗi lợn (Kcal) Nhu cầu Sữa mẹ cung cấp Nhu cầu bổ sung tuổi 1 2,7 965 965 0 2 4,1 1225 1255 0 3 5,9 1625 1430 195 4 7,7 2000 1240 760 5 10,0 2375 1240 1135 6 12,7 2750 1135 1615 7 15,9 3125 918 2210 8 19,0 3500 805 2695 Như vậy bắt đầu từ tuần tuổi thứ 3 lợn con bắt đầu có nhu cầu cần bổ sung năng lượng và mức này ngày càng cao do sữa mẹ cung cấp ngày càng giảm. Lợn con đang bú sữa có thể xác định lượng thức ăn thu nhận theo phương trình sau (NRC, 1998): DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 151,7 + (11,2 x ngày tuổi); R2 = 0,72. Lợn con sau cai sữa với khối lượng khoảng từ 5 – 15 kg, lượng thức ăn thu nhận được xác định như sau (NRC, 1998): DE ăn vào (Kcal/ngày) = - 1,531 + (455,5 x BW) + (11,2 x BW2); R2 = 0,92. Nguyễn Thị Lương Hồng và cs.
(2003) khi nghiên cứu về mức năng lượng và protein thích hợp cho lợn con sau cai sữa cho biết, đàn lợn con ngoại thuần ở giai đoạn sau cai sữa có tốc độ sinh trưởng cao nhất khi ăn khẩu phần có mức năng lượng 3300 và 3400 Kcal ME/kg (14 MJ DE/kg); tốc độ sinh trưởng của lợn đạt cao khi khẩu phần có mức năng lượng 14 MJ DE/kg. * Nhu cầu năng lượng của lợn đang sinh trưởng Năng lượng cung cấp cho lợn đang sinh trưởng bao gồm cho sự duy trì cơ thể, cho sự tăng trọng hàng ngày và dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh. Để tính toán nhu cầu năng lượng thì chúng ta thừa nhận một số thông số sau: 5 - Năng lượng trao đổi (ME) = 95% năng lượng tiêu hóa (DE) (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003) - Mô cơ có 77% nước - Mô mỡ có 10% nước Nhu cầu năng lượng trao đổi để duy trì (ME m) bao gồm cả năng lượng cần thiết cho các chức năng của cơ thể và những hoạt động thiết yếu.