Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu khái quát về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các khái niệm nghiên cứu: chất lượng cuộc sống nơi làm việc và sự gắn kết nhân viên, đồng thời nêu lên mối quan hệ giữa các khái niệm này, đưa ra mô hình nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu.
7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định thang đo nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này nêu lên thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá kết quả.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trong chương này sẽ tóm tắt lại kết quả, đưa ra các kiến nghị và hàm ý ứng dụng thực tiễn. Những hạn chế của nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được đề cập trong chương này. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến chất lượng cuộc sống nơi làm việc và sự gắn kết của nhân viên.
Đồng thời, chương này cũng xem xét các nghiên cứu trước đây trên thế giới về mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống nơi làm việc và sự gắn kết của nhân viên. Từ các lý thuyết trên, sẽ đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Chất lượng cuộc sống nơi làm việc (Quality of working life – QWL) 2.1 Sự ra đời của thuật ngữ chất lượng cuộc sống nơi làm việc Sau Cách mạng Công nghiệp, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực bị xem nhẹ do sự lớn mạnh của cơ giới hóa, sinh ra những vấn đề về sự bất mãn, sự chán nản trong công việc.từ phía nguồn nhân công. Để giải quyết cho các vấn đề này, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện. Trong các nghiên cứu này có đưa ra những yếu tố quan trọng để thiết kế công việc nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của nhân lực và tại lúc này, nhu cầu về chất lượng cuộc sống nơi làm việc trong tổ chức được nhấn mạnh (Jayakumar và Kalaiselvi, 2012).
Cuối những năm 1960, thuật ngữ chất lượng cuộc sống nơi làm việc mới bước đầu được chú ý trong việc tập trung vào những ảnh hưởng của những điều kiện sức khỏe và những đãi ngộ chung đến công việc và cách làm tăng những ảnh hưởng tích cực của kinh nghiệm làm việc cá nhân (Cummings và Vorley, 2009). Năm 1972, thuật ngữ chất lượng cuộc sống nơi làm việc được giới thiệu chính thức trong một hội nghị liên quan đến lao động quốc tế (Hian và Einstein, 1990). Những người tham dự hội nghị này cuối cùng rút ra được một kết luận rằng “cải thiện nơi làm việc, tổ chức và môi trường làm việc có thể dẫn đến kết quả công việc tốt hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn cho xã hội” Đến giữa những năm 1970, QWL được mở rộng ra và hướng về việc thiết kế nội dung công việc và cải thiện điều kiện làm việc. Tiếp đến trong những năm 1980, thuật ngữ chất lượng cuộc sống nơi làm việc được bổ sung thêm những yếu tố khác gây ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên và năng suất, chẳng hạn như chế độ khen thưởng, môi 9 trường làm việc, những quyền lợi và nhu cầu được tôn trọng (Ebrahim, Mohammadreza và Alizera, 2010).2 Khái niệm chất lượng cuộc sống nơi làm việc Chất lượng cuộc sống nơi làm việc là một thuật ngữ thuộc khoa học hành vi, được định nghĩa theo nhiều góc nhìn khác nhau.
Khi bước đầu phát triển vào giữa những năm 1970, QWL tập trung vào việc thiết kế và cải thiện công việc. Chất lượng cuộc sống nơi làm việc được xác định là cách thức phản ứng của con người đối với công việc, đặt biệt là các kết quả cá nhân có liên quan đến sự hài lòng công việc và sức khỏe tinh thần. Khái niệm QWL được mở rộng ra bên ngoài những phát triển ban đầu của nó, bao gồm xác định những đặc tính của nơi làm việc có ảnh hưởng năng suất lao động và sự hài lòng, chẳng hạn như hệ thống khen thưởng, phong cách quản lý và môi trường làm việc (Beh và Rose, 2007). QWL đã được định nghĩa bởi nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều cách khác nhau.
Carlson (1980, dẫn theo Martel và Dupuis 2006) định nghĩa QWL là cả mục tiêu và quá trình liên tục để đạt mục tiêu đó. Là một mục tiêu, QWL là sự cam kết của tổ chức để cải thiện công việc: tạo ra sự lôi cuốn, sự hài lòng, công việc hiệu quả và môi trường làm việc cho mọi người ở các cấp độ của tổ chức. Là một quá trình, QWL kêu gọi những nổ lực để thực hiện mục tiêu này thông qua sự tham gia tích cực của mọi người trong tổ chức. Robbins (1989, dẫn theo Duyan và Akyildiz 2013) định nghĩa chất lượng cuộc sống nơi làm việc là quá trình mà tổ chức đáp lại nhu cầu của người lao động bằng phát triển thể chế để cho phép người lao động được quyền lên tiếng trong những quyết định về cuộc sống tại nơi làm việc của họ.
Theo một định nghĩa khác, chất lượng cuộc sống nơi làm việc là những điều kiện thuận lợi và môi trường của nơi làm việc, hỗ trợ và làm tăng mức độ thỏa mãn của người lao động bằng cách cung cấp cho người lao động lương thưởng, công việc ổn định và cơ hội phát triển (Lau và các cộng sự, 1998). Nadler và Lawler (1983, dẫn theo Martel và Dupuis 2006) xem xét QWL là một cách thức suy nghĩ về con người, công việc và tổ chức. Yếu tố phân biệt của nó 10 là (1) mối quan tâm về tác động của công việc đối với con người cũng như hiệu quả của tổ chức và (2) ý tưởng của sự tham gia vào việc ra quyết định và giải quyết những vấn đề của tổ chức. QWL còn được định nghĩa là “công việc tốt hơn và cách thức cân bằng trong cách kết hợp giữa cuộc sống nơi làm việc và cuộc sống cá nhân”.
Nó có liên đới đến sự thỏa mãn công việc, sự cam kết, động viên, năng suất, an toàn và sức khỏe, ổn định công việc, phát triển cạnh tranh và cân bằng giữa cuộc sống công việc và ngoài công việc (Rethinam và Ismail, 2008) Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra được kết luận: chất lượng cuộc sống nơi làm việc là những điều kiện thuận lợi và môi trường của nơi làm việc hỗ trợ và làm tăng mức độ thỏa mãn của người lao động bằng cách cung cấp cho họ những lợi ích kinh tế, sự ổn định, điều kiện làm việc, mối quan hệ giữa cá nhân tổ chức, những giá trị của cá nhân trong công việc. Chất lượng cuộc sống nơi làm việc còn là một phần của chất lượng cuộc sống, bao gồm cảm giác của cá nhân về từng phương diện của công việc và mức ảnh hưởng của những yếu tố này đến cuộc sống cá nhân tại nơi làm việc. Bởi vậy, có thể nói chất lượng cuộc sống nơi làm việc quan tâm đến không chỉ là cải thiện cuộc sống nơi làm việc, mà còn cuộc sống bên ngoài công việc của nhân viên để nhân viên có thể cân bằng được công việc và cuộc sống.3 Các thành phần của chất lượng cuộc sống nơi làm việc Cũng như khái niệm chất lượng cuộc sống nơi làm việc, các thành phần của chất lượng cuộc sống nơi làm việc cũng được xem xét dưới nhiều cách khác nhau. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng đưa ra một mô hình chung, phổ biến để đánh giá QWL là một điều rất khó khăn.
Các thành phần của QWL của các nhà nghiên cứu khác nhau là khác nhau và một mô hình nghiên cứu kiểm định ở các quốc gia khác nhau cũng có những thành phần khác nhau (Daud, 2010). Rất nhiều tác giả và nhà nghiên cứu đã đề xuất mô hình chất lượng cuộc sống nơi làm việc trong đó bao gồm một loạt các yếu tố. Các nhà nghiên cứu khác đã cố gắng để đo lường QWL trong một loạt các thiết kế bằng cách sử dụng kết hợp các bảng câu hỏi khác nhau như sự hài lòng công việc, cam kết tổ chức, ý định 11 chuyển việc, công việc căng thẳng, sự lôi cuốn công việc và cuối cùng vai trò công việc, xung đột, và sự quá tải của công việc. Một số tác giả xem xét một vài nội dung như: Klatt, Mudrick và Schuster (1985) định nghĩa 8 khía cạnh của chất lượng cuộc sống nơi làm việc bao gồm: tiền lương, áp lực công việc, chương trình chăm sóc sức khỏe, lịch làm việc linh động, tham gia quản lý và kiểm soát công việc, được công nhận, quan hệ với cấp trên và cấp dưới, quy trình khiếu nại, được cung cấp đầy đủ các nguồn lực, thâm niên và thành tích trong thăng tiến và phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở lâu dài.
Theo Can (1991), chất lượng cuộc sống nơi làm việc là một khái niệm bao gồm các yếu tố như lương và phúc lợi, điều kiện và môi trường làm việc, kết cấu công việc, tổ chức, quản lý và tổ chức công việc, kỹ thuật, thỏa mãn của nhân viên và động viên, quan hệ công việc, sự tham gia, công việc đảm bảo, công bằng và an sinh xã hội, cơ cấu nhân khẩu học và giáo dục thường xuyên. Mirvis và Lawler (1984) cho rằng chất lượng cuộc sống nơi làm việc có liên quan tới sự hài lòng với mức lương, giờ và điều kiện làm việc, mô tả những “yếu tố cơ bản của một chất lượng tốt của cuộc sống nơi làm việc “như môi trường làm việc an toàn, tiền lương công bằng, bình đẳng và cơ hội việc làm, cơ hội thăng tiến. Taylor (1978) xác định các thành phần thiết yếu của chất lượng cuộc sống nơi làm việc gồm các yếu tố cơ bản bên ngoài công việc như tiền lương, giờ làm việc và điều kiện làm việc, yếu tố nội tại của bản chất công việc. Ông cho rằng một khía cạnh khác có thể được thêm vào, bao gồm: năng lực cá nhân, nhân viên tham gia quản lý, tính công bằng và sở hữu, hỗ trợ xã hội, sử dụng các kỹ năng, một tương lai có ý nghĩa trong công việc, liên quan xã hội của công việc hoặc sản phẩm, ảnh hưởng của hoạt động làm thêm giờ.