CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ðẾN QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. ðịnh nghĩa về quản trị lợi nhuận QTLN là một vấn ñề ñược rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bình luận. Tuy nhiên vẫn chưa có sự ñồng thuận về ñịnh nghĩa QTLN (Beneish, 2001).
Theo Schipper (1989) thì QTLN là sự ñiều chỉnh thay ñổi lợi nhuận ñể ñạt ñược mục tiêu ñã ñặt ra trước ñó của nhà quản trị, ñó là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm ñạt ñược những mục ñích cá nhân. Quan ñiểm của Beneish (2001) cho rằng, QTLN là sự can thiệp có cân nhắc nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích, trung thực về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các nhà ñầu tư và các bên có liên quan, nhằm giúp họ ñưa ra các quyết ñịnh tài chính liên quan ñến doanh nghiệp. Tổng hợp lại các khái niệm về QTLN trước ñây, Ronen & Yaari (2008) ñã phân loại ñịnh nghĩa về hành vi QTLN thành 3 nhóm: trắng, xám và ñen. Nhóm màu trắng tượng trưng cho việc QTLN theo hướng có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm màu xám liên quan ñến việc thao tác các số liệu kế toán trong hoặc ngoài giới hạn cho phép nhằm mục ñịch cơ hội hoặc hướng ñến hiệu quả kinh tế, và nhóm màu ñen biểu thị cho hành vi sử dụng các thủ thuật ñể làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của BCTC.
ðề tài sử dụng ñịnh nghĩa sau của Healy & Wahlen (1999) về quản trị lợi nhuận: "Quản trị lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các ñánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong quá trình thực hiện 8 các nghiệp vụ kinh tế ñể thay ñổi báo cáo tài chính nhằm làm cho các bên có liên quan ñánh giá không chính xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng ñến kết quả của các hợp ñồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo". Từ ñó, ta nhận thấy QTLN là hành ñộng có mục ñích của nhà quản lý bằng cách sử dụng các hình thức chi phối thu nhập như lựa chọn chính sách kế toán hay thông qua thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, sử dụng các hành ñộng quản lý nhằm mục ñích gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin cho người sử dụng ñể ñạt ñược lợi ích nào ñó. ðộng cơ của quản trị lợi nhuận Cho ñến hiện nay, tồn tại nhiều ñộng cơ của quản trị lợi nhuận ñược nhận diện trong các nghiên cứu vấn ñề này ở các nước. Nhà quản lý có thể có nhiều ñộng lực ñể thực hiện việc QTLN nhằm ñạt ñược một mục tiêu nào ñó.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh phát triển mạnh mẽ ñầy cạnh tranh hiện nay cùng với sự biến ñộng của TTCK, hầu hết nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện việc QTLN ñể ñiều chỉnh mức lợi nhuận theo mong muốn bằng cách “bóp méo” thông tin kế toán nhưng vẫn ñảm bảo thông tin này vẫn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán và các quy ñịnh liên quan. Do ñó, hành vi QTLN là sự vận dụng linh hoạt, khéo léo các “khoảng trống tự do” trong chuẩn mực kế toán ñể sắp xếp lại BCTC theo mục ñích của nhà quản lý. Có nhiều ñộng cơ dẫn ñến hành vi QTLN của nhà quản lý ñược ñề cập nhiều trong các nghiên cứu bao gồm: a. ðộng cơ về hợp ñồng thù lao Theo lý thuyết ñại diện, nhà quản lý có xu hướng hành ñộng ñể tối ña hóa lợi ích của mình.
Khi thu nhập của nhà quản lý dựa trên kết quả hoạt ñộng kinh doanh của doanh nghiệp như chỉ số lợi nhuận thì các nhà quản lý có xu hướng ñiều chỉnh bằng cách gia tăng lợi nhuận kế toán trong kỳ, hoặc khi chỉ tiêu lợi nhuận ñã ñạt ñến mức cao hơn giá trị kế hoạch ñề ra, nhưng 9 nếu mức thưởng có giới hạn, nhà quản lý có thể sẽ chuyển một phần lợi nhuận sang năm sau. Ngoài ra, khi nhà quản lý có sở hữu cổ phiếu của công ty, nếu muốn bán ñi số cổ phiếu ñang nắm giữ ñể thu ñược lợi nhuận ñược mức cao, nhà quản lý cũng có thể ñiều chỉnh tăng lợi nhuận ñể gây tác ñộng vào giá cổ phiếu nhằm trục lợi (Healy, 1985; Gaver, Gaver & Austin, 1995; Holthausen, Larcker & Sloan, 1995). ðộng cơ về hợp ñồng nợ Một số doanh nghiệp có ñộng cơ ñiều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tránh vi phạm hợp ñồng nợ. Bởi các ngân hàng và chủ nợ thường yêu cầu doanh nghiệp ñạt ñược một kết quả kinh doanh nhất ñịnh thể hiện qua số liệu kế toán.
Nếu doanh nghiệp không thực hiện ñược, các ngân hàng và chủ nợ có thể tăng lãi suất ñối với các khoản nợ hoặc yêu cầu doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngay lập tức. Kết quả là, các nhà quản lý sẽ quản trị lợi nhuận nhằm tránh vi phạm các hợp ñồng vay (Healy & Papelu, 1990; DeAngelo, DeAngelo & Slinner, 1994; Defond & Jimbalvo, 1994; Sweeney, 1994). ðộng cơ phát hành cổ phiếu ðối với các công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng muốn tạo “sức hút” ñối với các nhà ñầu tư, ngoài yếu tố như lĩnh vực kinh doanh, tiềm lực tài chính, quy mô hoạt ñộng, dự án phát triển trong tương lai…thì chỉ tiêu lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu thu hút sự quan tâm của nhà ñầu tư. ðó cũng là một trong những lý do khiến nhà quản lý ñiều chỉnh tăng lợi nhuận tối ña có thể (trong khuôn khổ cho phép của chuẩn mực, chế ñộ kế toán) làm cho kết quả của doanh nghiệp “ñẹp” hơn nhằm ñạt ñược mục tiêu huy ñộng vốn, tăng giá trị thị trường của cổ phiếu (Freidlan, 1994 ; Rangan, 1998; Teoh, Welch & Wong, 1998; Shivakumar, 2000).
ðộng cơ pháp lý Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy ñịnh về pháp lý cũng là ñộng cơ làm 10 xuất hiện QTLN (Jones, 1991; Rayburn & Lenway, 1992; Cahan, 1992). Doanh nghiệp có thể thực hiện QTLN ñể tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN hoặc trì hoãn thanh toán thuế hoặc hưởng ưu ñãi thuế. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) cho thấy việc giảm thuế suất thuế TNDN có ảnh hưởng lớn ñến ñộng cơ QTLN của các công ty CP niêm yết. Các lý thuyết giải thích cho quản trị lợi nhuận a.
Lý thuyết ñại diện Lý thuyết ñại diện (Jensen & Meckling, 1976) nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên ñược ủy quyền thông qua mô hình hóa mối quan hệ giữa cổ ñông và người quản lý. Mối quan hệ này ñược coi là quan hệ hợp ñồng mà theo ñó các cổ ñông giao cho người quản lý quyền ñiều hành công ty ñể mang lại lợi ích cho cả hai bên. ðiều này gây ra sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu của cổ ñông và chức năng kiểm soát của nhà quản lý có thể dẫn tới việc các nhà quản lý sẽ có những hành ñộng gây ảnh hưởng cho chủ sở hữu là các cổ ñông nhằm ñem lại lợi ích cho bản thân.
Vì vậy, các cổ ñông phải thường xuyên giám sát hoạt ñộng của các nhà quản lý trong công ty ñể ñảm bảo lợi ích của mình. Lý thuyết ñại diện cho rằng khi thông tin không ñầy ñủ và bất cân xứng giữa chủ sở hữu và các nhà quản lý trong công ty, thì xung ñột sẽ phát sinh. Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn ñề này ñược giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp ñể có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ ñông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế ñãi ngộ thích hợp, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả ñể hạn chế những hành vi tư lợi của người quản lý công ty. Lý thuyết ñại diện là cơ sở ñể giải thích cho hiện tượng thông tin bất ñối xứng giữa nhà quản lý doanh nghiệp và các cổ ñông khiến cho rủi ro thông tin tăng lên do nhà quản trị có ñược các thông tin về doanh nghiệp chính xác và kịp thời hơn.
Lý thuyết về thông tin bất cân xứng Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần ñầu ñược nhắc ñến trong nghiên cứu của G.Akerlof (1970), sau ñó tiếp tục ñược phát triển bởi M. Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên có ít thông tin hơn bên ñối tác hoặc có thông tin không chính xác. ðiều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết ñịnh không chính xác khi thực hiện giao dịch ñồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch. Hậu quả của thông tin bất cân xứng là gây ra lựa chọn bất lợi khi thông tin bị che dấu trước khi kí kết hợp ñồng và xuất hiện tâm lý ỷ lại sau khi kí kết hợp ñồng.
Trong doanh nghiệp, thông tin bất cân xứng xuất hiện trong quan hệ nhà quản lý với các cổ ñông và doanh nghiệp với nhà ñầu tư. Doanh nghiệp không phát tín hiệu hoặc phát tín hiệu không chính xác sẽ gây bất lợi cho nhà ñầu tư. Hay nhà quản trị là người trực tiếp ñiều hành sẽ nắm rõ thông tin doanh nghiệp nhưng cố tình che dấu gây ra lựa chọn bất lợi cho các cổ ñông và tâm lý ỷ lại của nhà quản lý. Việc thiếu thông tin từ các tổ chức này sẽ làm cho nhà ñầu tư không hiểu thấu ñáo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt ñộng mua bán chứng khoán, xu hướng thị trường… dẫn ñến những quyết ñịnh ñầu tư không chính xác.
Quyền lợi của nhà ñầu tư bị ảnh hưởng có thể dẫn ñến sự ñổ vỡ của TTCK. Lý thuyết thông tin bất cân xứng ñược sử dụng nhằm giải thích về việc phát tín hiệu ra thị trường hay tăng cường công bố thông tin tốt ñể giúp các nhà ñầu tư trên thị trường phân biệt ñánh giá các loại chứng khoán của các công ty cổ phần niêm yết. ðồng thời góp phần giải thích mối quan hệ giữa tình trạng thông tin bất cân xứng và hành vi QTLN. Lý thuyết tín hiệu Lý thuyết tín hiệu ban ñầu ñược phát triển ñể làm rõ sự không ñối xứng 12 về thông tin trong thị trường lao ñộng, nó ñã ñược sử dụng ñể giải thích việc công bố thông tin trong báo cáo của công ty.