CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Một số lý luận về lãi suất. Theo quan điểm của K.Marx: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản - chủ ngân hàng chiếm đoạt”. Như vậy theo K.Marx lãi suất có nguồn gốc từ lợi nhuận, là một bộ phận của lợi nhuận.
Tuy nhiên, ta thấy phạm vi đề cập của K.Marx chỉ ở phạm vi của quan hệ cho vay và đi vay do sự phát triển hạn chế của các quan hệ tài chính, tiền tệ ở thời kỳ đó. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng:“Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”. lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ. Nói một cách khác lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ tiền, là kết quả của hoạt động tiền tệ.
Quan điểm coi lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ, là chi phí cơ hội của việc giữ tiền có thể nói là một bước tiến lớn trong việc xác định các hình thức biểu hiện và những nhân tố tác động tới lãi suất. Tóm lại, lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng- giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất (World Bank).
Lãi suất là một trong những chỉ tiêu quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư hay tiết kiệm của một cá nhân cũng như tổ chức, doanh nghiệp, bên cạnh đó nó còn là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương dung để điều tiết lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Sự biến động, thay đổi của lãi suất ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư của nền kinh tế.Trong nền kinh tế thị trường thông thường ngân hàng trung ương ấn định khung lãi suất chung. Trong phạm vi khung lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường.Khung lãi suất chính là giới hạn tối đa của lãi suất cho vay và tối thiểu của lãi suất tiền gửi mà ngân hàng trung ương quy định để khống chế và quản lý chung về mặt lãi suất đối với các tổ chức tín dụng. Khung lãi suất được ngân hàng trung ương công bố và thay đổi tùy thuộc vào giá cả thị trường, sức mua của đồng tiền, cung cầu tín dụng và chính sách của nhà nước.
Phân loại lãi suất. - Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất được chia thành 3 loại Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn (thời gian vay dưới 12 tháng). Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn (thời gian vay từ 12 tháng đến 5 năm). Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn (thời gian vây trên 5 năm).
- Căn cứ vào các loại hình tín dụng (phân loại theo chủ thể tham gia quan hệ tíndụng) Lãi suất được chia thành các loại sau: + Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua ban chịu hàng hoá. + Lãi suất tiền gửi : là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi .Nó được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người giửi tiền. + Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng do việc sử dụng vốn vay của Ngân hàng. Nó được áp dụng để tính lãi mà khách hàng phải trả cho Ngân hàng.
+ Lãi suất chiết khấu : áp dụng khi Ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức triết khấu thường phiếu hoặc giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá trịvà được khấu trừ ngay khi Ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. + Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ổn định mức lãi suất kinh doanh của mình. + Lãi suất tín dụng Nhà nước : áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
+ Lãi suất tín dụng tiêu dùng : áp dụng khi doanh nghiệp cho người lao động vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân. - Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất Lãi suất được chia thành 2 loại : + Lãi suất danh nghĩa : Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát + Lãi suất thực của hai loại 7 • Lãi suất thực tính trước ( dự tính ): là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo đúng những thay đổi dự tính về lạm phát • Lãi suất thực tính sau : là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi trên thực tế về lạm phát Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát - Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất Lãi suất được chia làm hai loại. • Lãi suất ổn định : là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay.
Nó có ưu điểm : Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả. Bên cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào. • Lãi suất thả nổi : Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc không báo trước.Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền đềutính theo một lãi suất chung là lãi suất hiện tại. - Căn cứ vào mức ổn đinh của lãi suất - Lãi suất được chia làm 2 loại lãi đơn và lãi kép - + Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay - Công thức tính : I = Co.
n - ( trong đó I số tiền lãi, Co vốn gốc, i là lãi suất, n số kỳ ) - Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất - + Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tứ thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay - Công thức : C = Co ( 1=i)n - Trong đó:C số tiền thu được theo lãi gộp sau n k,Co vốn gốc ban đầu,i lãi suất; n số kỳ gửi vốn. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường tài chính. Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước qui định, thậm chí một số nước còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng.
Sự biến động của lãi suất trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của chính phủ và không vận động theo bất cứ một quy luật nào. Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành 8 lãi suất là cơ chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều các nhân tố khác. Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ Lãi suất là giá cả của cho vay chính vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu về vốn không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường Từ đó cho thấy ta có thể điều chỉnh mức lãi suất trên thị trường bằng cách tác động vào cung cầu vốn trên thị trường mặt khác muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
Nếu NHTU chọn tổng lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian với tỷ lệ tăng dự tính là x%, lãi suất tương ứng là i* (Hình 1). Tuy nhiên, nếu mức cầu tiền tệ không ổn định tại LP mà dao động giữa LP' và LP'' thì lãi suất sẽ biến động từ i' đến i''. Sự biến động của nhu cầu tiền tệ là tất yếu bởi sự tăng lên hoặc giảm xuống không dự tính trước được của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu nắm giữ tiền tệ của công chúng. Trong điều kiện cố định mức cung ứng tiền tệ, sự biến động mức lãi suất là hiển nhiên.1 Biến động lãi suất khi theo đuổi cung tiền xác định.
Mục tiêu lãi suất Nếu NHTU chọn mức lãi suất mục tiêu i* = y%, mức cầu tiền tệ tương ứng sẽ là LP (Hình 2). Trong thực tế, mức cầu tiền dao động từ LP' đến LP''. Để đạt được mục tiêu lãi suất tại i*, NHTU buộc phải thay đổi mức cung tiền từ M' đến M'' nhằm ngăn cản sự tăng lên hay giảm xuống của lãi suất so với i*. Như vậy, để duy trì mục tiêu lãi suất, mức cung ứng tiền và cơ số tiền sẽ biến động.2 Biến động lượng cung tiền khi theo đuổi lãi suất cố định.
Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính phủ và NHTU, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kỳ chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm.