phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gôm 3 chương: Chương |. Một số van đề lý luận về án treo trong Luật hình sự Việt Nam Chương 2. Quy định của Luật hình sự Việt Nam về án treo và thực tiễn áp dụng án treo trong giai đoạn xét xử tại thành phố Hà Nội từ 2018 đến 2022 Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng án treo trong hoạt động xét xử vụ án hình sự.
MOT SO VAN DE CHUNG VE ÁN TREO TRONG LUẬT HÌNH SU 1. Khai niệm, đặc điểm và bản chat pháp lý của án treo 1. Khái niệm án treo Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù và được quy định cụ thé về án treo và điều kiện được hưởng án treo tại Bộ luật hình sự sé 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 va Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thé như sau: Án treo ra đời từ rất sớm, trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của khoa học hình sự Việt Nam, từ sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 tới nay, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau.
Đôi lúc “án treo” còn được hiểu là “tạm đình chỉ việc thi hành án” hoặc là một biện pháp “hoãn hình phạt tù có điều kiện” hay “biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống hình phạt ở nước ta. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chế định án treo. Theo tác giả Dinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa Hình sự — Tòa án nhân dân tối cao thì: “An treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có diéu kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cân bắt họ phải chấp hành hình phạt tù `.
Theo quan điểm của GS.TS Lê Văn Cảm: “An treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đổi với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện toi phạm khi có đủ căn cứ và những diéu kiện do pháp luật hình sự quy định ”. Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp thì : “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện ”. Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 thì: “Khi xử phat tu không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không can phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự ”. Theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo: “An treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đổi với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thay không can bắt họ phải chấp hành hình phạt tù ”.
Từ những quan điểm trên, có thé hiểu án treo là “biên pháp miễn chap hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đây đủ những căn cứ và diéu kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định nhằm khuyến khích họ cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội, dong thoi cũng cảnh cáo ho là nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt ti được hưởng án treo của ban án trước đó”. Đặc diém của án treo Án treo có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, án treo là biện pháp giáo dục trong trường hợp không cần cách ly người phạm tội khỏi cộng đồng khi bị xử phạt tù tương đối nhẹ đồng thời là một chế định pháp lý độc lập thé hiện nguyên tắc nhân đạo và phương châm xử lý trong chính sách hình sự của Nhà nước ta "nghiêm trị kết hợp với khoan hong, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục". Tuy nhiên, nếu người phạm tội không biết hướng thiện, không ý thức hậu quả pháp lý của án treo mà lại phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ phải thi hành hình phạt tù cua bản án treo ngoai việc phải thi hành hình phat của tội mới, không được tự do và phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi khác. Việc Tòa án xem xét cho người phạm tội hưởng án treo, tự cải tạo giáo dục bên ngoài trại giam vừa giảm tải áp lực cho các trại tạm giam, trại giam, vừa tao điều kiện cho người phạm tội có niềm tin và hy vọng đề hoàn lương, ngăn ngừa tái phạm.
Thứ hai, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống hình phạt bao gồm bảy hình phạt chính và chín hình phạt bổ sung (được quy định từ Điều 28 đến Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1999), trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Người chịu hình phạt tù có thời hạn có thê được hưởng án treo. Trong các loại hình phạt được quy định tại Điều 28 Bộ luật hình sự không có quy định án treo, như vậy không thể coi án treo là hình phạt.
Vì mối quan hệ giữa án treo và tù có thời hạn nên nhiều người coi án treo là hình phạt. Tuy nhiên án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là người được hưởng án treo là người phạm tội phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhưng được miễn việc chấp hành hình phạt tù tại trại giam. Việc cho người phạm tội hưởng án treo là cho phép họ tự cải tạo mà không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương dé họ tích cực cải tạo và tránh được những hình vi sai trái.
Không phải bat cứ bị cáo nao khi bị xét xử Tòa án đều cho hưởng án treo, mà chỉ có những bị cáo đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại BLHS năm 2015 và các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Tham phán TAND tối cao thì mới được Tòa án “xem xét” cho hưởng án treo. Tòa án sẽ ấn định cho bị cáo một thời gian thử thách trong phạm vi pháp luật quy định, nếu 10 trong thời gian thử thách đó mà phạm tội mới thì ngoai hình phat của tội danh mới mà Tòa án tuyên phạt, bị cáo còn phải chấp hành cả hình phạt tù của bản án mà bản thân bị cáo được Toa án cho hưởng an treo. Tại khoản 5 Điều 165 BLHS năm 2015 quy định rõ: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thị hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thé quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của ban án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của ban án trước và tông hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Thứ ba, người được hưởng án treo phải tự cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương trong một thời gian thử thách nhất định do Tòa án ấn định. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tô chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Thời gian thử thách là khoảng thời gian nhất định do Tòa án ấn định để kiểm tra, đánh giá việc tự cải tạo của người phạm tội.
Pháp luật quy định về thời gian thử thách đối với người phạm tội từ một năm đến năm năm. Thời gian thử thách được Tòa án xác định dựa trên cơ sở mức hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu. Trong trường hợp người phạm tội không phạm tội mới trong thời gian thử thách và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì không phải chấp hành hình phạt đã tuyên. Ngược lại, đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật.
11 Người được hưởng án treo phải có nghĩa vụ báo cáo và có mặt theo yêu cầu triệu tập của cơ quan, tô chức don vị giám sát, phải chấp hành pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú làm việc học tập dưới sự giám sát giáo duc của các cơ quan có thẩm quyên theo quy định của Luật THAHS. Việc giám sát này có ý nghĩa thiết thực, nhằm đảm bảo trách nhiệm của xã hội với quá trình giúp đỡ người bị án treo tự giáo dục, cải tạo, tránh nguy cơ họ tái phạm. Bản chất pháp lý của án treo Theo quy định của các văn bản pháp luật trên thì có thé thấy một người bị phạt tù được hưởng án treo thực hiện theo trình tự: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm. Như vậy, việc xem xét cho hưởng án treo là một bước của hoạt động quyết định hình phạt, được đặt ra trong trường hợp bị phạt tù từ 3 năm trở xuống.