MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Đô thị Việt Nam những năm qua đang phát triển theo chiều rộng, tính từ năm năm 2000 cả nước có từ 645 đô thị đến năm 2010 đã tăng lên 721 đô thị [48, tr. Trong 10 năm kể từ 2000 đến 2010 số lượng đô thị loại IV (thị trấn trực thuộc huyện) tăng lên là chủ yếu, tăng 11,7%. Điều này cho thấy làn sóng đô thị hóa đang lan tỏa đến các làng quê và cùng với nó là việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất mà điển hình nhất là chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng (xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng đô thị. Theo Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006-2010 của cả nước thì chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp được phê duyệt là 645.
“Nếu tính trung bình 1 ha đất nông nghiệp liên quan đến 1-2 lao động nông nghiệp thì số nông dân bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc thu hồi đất nông nghiệp từ năm 2006-2010 không dưới 1 triệu người” [37, tr. Đất đai hay ruộng đất gắn liền với sinh kế của người nông dân và qua đó vị thế xã hội của họ được xác lập. Tác giả Nguyễn Danh Sơn trong nghiên cứu về “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” đã nhận định:“Đất đai đối với nông dân là nhu cầu tối quan trọng mà việc đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này như là điều kiện cơ bản cho lợi ích của nông dân” [40, tr. Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp của người nông dân đều gắn với đất đai, thậm chí để sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao cần diện tích đất lớn để có thể thâm canh, chuyên môn hóa, áp dụng máy móc vào sản xuất nâng cao năng suất và sản lượng.
Nhưng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam thời gian vừa qua đã khiến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một diện tích đáng kể đất nông nghiệp bị mất đi do chuyển đổi sang đất chuyên dùng (xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, nhà máy, doanh nghiệp). Như vậy, vị thế xã hội của người nông dân bị biến đổi trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp và cấu trúc xã hội vùng khi mất đất trong quá trình đô thị hóa. Vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp của người nông dân chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp và vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội vùng chuyển từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị. Trong thời kỳ chuyển đổi này, người nông dân đã gặp những khó khăn, nhu cầu nào để xác lập vị thế xã hội mới trong cấu trúc xã hội đô thị? Chương trình và chính sách an sinh xã hội sẽ là một trong những giải pháp cơ bản cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa.
Đồng bằng sông Hồng cùng với đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là những vùng có tốc độ đô thị hóa cao của cả nước. Không những vậy đồng bằng sông Hồng lại là vùng có mật độ dân số cao nhất của cả nước. Mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng là 949 người/km2 trong khi vùng Đông Nam Bộ là 631 người/km2 (Tổng cục Thống kê, 2012). Bởi vậy, luận văn này lựa chọn nghiên cứu trường hợp tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đây là một địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nơi có tốc độ đô thị hóa cao và có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh quanh vấn đề thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Luận văn đi vào nghiên cứu một số vấn đề về an sinh xã hội dành cho nông dân mất đất nhằm giúp họ thích ứng với quá trình xã hội hóa cá nhân và tạo lập địa vị xã hội của người đô thị qua nghiên cứu tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2.Ý nghĩa lý luận Luận văn sử dụng lý thuyết cơ cấu xã hội trong việc phân tích sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp diễn ra tại phường Lộc Vượng trong quá trình đô thị hóa, lý thuyết an sinh xã hội được vận dung trong phân tích về vai trò của các chương trình – chính sách an sinh xã hội đối với nông dân mất đất, cuối cùng lý thuyết đô thị hóa được sử dụng trong phân tích tác động của quá trình quá đô thị hóa đến đời sống của nông dân mất đất.Ý nghĩa thực tiễn: Tại Việt Nam còn thiếu những nghiên cứu về vấn đề an sinh xã hội cho người nông dân mất đất. Do đó cần có nghiên cứu khám phá tìm hiểu vấn đề về an sinh xã hội cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa ở phường Lộc Vượng, Nam Định. Trong giới hạn về nguồn lực luận văn nghiên cứu trường hợp tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đây là địa phương đang diễn ra quá trình đô thị hóa với những đặc điểm khá điển hình cho vùng đồng bằng sông Hồng.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu nhằm nhận diện tình trạng an sinh xã hội đối với nông dân mất đất từ đó xác định nhu cầu an sinh xã hội cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. - Đưa ra những khuyến nghị về hỗ trợ cho người nông dân mất đất để họ ổn định cuộc sống sau mất đất trong quá trình đô thị hóa. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ khái niệm an sinh xã hội, nông dân mất đất, đô thị hóa.
- Phân loại đối tượng nông dân mất đất, các loại hình an sinh xã hội. - Xác định nhu cầu và giải pháp về an sinh xã hội để nông dân mất đất ổn định cuộc sống - Đề xuất một số khuyến nghị để áp dụng các loại hình an sinh xã hội để hỗ trợ người nông dân mất đất, giúp họ thích ứng với sự biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội của bản thân và của xã hội.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: An sinh xã hội cho nông dân mất đất và hậu quả của nó. - Khách thể: Người nông dân bị mất đất trong quá trình đô thị hóa ở phường Lộc Vượng, cán bộ chính quyền, hội, đoàn thể địa phương. - Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn không gian nghiên cứu: Phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ năm 2000 đến 2011, mốc đối chiếu là năm 2005 khi có quyết định chuyển từ xã Lộc Vượng sang phường Lộc Vượng.
Luận văn này hướng đến tìm hiểu vấn đề mất đất nông nghiệp vì đây chính là tư liệu sản xuất chính của người nông dân. Mất đất nông nghiệp có tác động sâu sắc đến đời sống của người nông dân khi phải tổ chức lại hoạt động sản xuất, lối sống từ đó dẫn đến những nhu cầu để ổn định cuộc sống sau mất đất. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Tổng quan tình hình nghiên cứu 5.Nghiên cứu về an sinh xã hội và an sinh xã hội cho nông dân Nghiên cứu trên thế giới về an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội Sau cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội có những cơ sở để hình thành và phát triển. Đó là vì lực lượng công nhân tăng lên và cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu hoặc hoàn toàn vào tiền làm công nên sự hụt hẫng về tiền lương sẽ trở thành mối đe dọa với cuộc sống của người không có thu nhập ngoài lương.
Hoàn cảnh này khiến những người làm công cần được hỗ trợ. Xét về truyền thống, hệ thống an sinh xã hội của châu Âu được hình thành từ trước đó, trên cơ sở Luật cứu trợ người nghèo ra đời ở Anh từ thế kỷ XVI và lan dần sang các nước châu Âu. Theo luật này nghèo khổ là khuyết điểm của người nghèo, chính vì vậy xã hội cần phải trợ giúp họ để chọ có điều kiện làm việc tốt hơn [45]. Cũng theo nghiên cứu về an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực, năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật.
Thời gian đầu những người làm công đóng góp, thời gian sau đó đến năm 1880, giới chủ và Nhà nước cũng tham gia đóng góp bắt buộc cùng người lao động [44]. Mô hình của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó lan sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada những năm 1930. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển.
Đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ, quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ an sinh xã hội chính thức được sử dụng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dung thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. An sinh xã hội được thế giới thừa nhận là một trong những quyền của con người.
Tuyên ngôn nhân quyền do đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã hội”. Hội nghị toàn thể của ILO ngày 25/6/1952 thông qua công ước số 102 gọi tắt là Công ước về An sinh xã hội trên cơ sở tập hợp các chế độ về an sinh xã hội đã có trên toàn thế giới thành chín bộ phận nhưng đến nay do tính chất phức tạp của an sinh xã hội nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Sự ra đời của những văn kiện quốc tế về an sinh xã hội cho thấy tầm quan trọng và sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước đối với vấn đề này.