Tổng quan luận án

Thông tin chung Nội dung chi tiết
Tên luận án Áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Thương
Người hướng dẫn khoa học PGS. Nguyễn Duy Phương
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành 938.07
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Luật – Đại học Huế
Năm hoàn thành 2021

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ kinh doanh, thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng, làm phát sinh nhiều tranh chấp có tính chất phức tạp. Khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại (KDTM) tại Tòa án nhân dân (TAND) hoặc Trọng tài thương mại (TTTM), cơ quan tài phán căn cứ vào các quy định pháp luật để ban hành phán quyết. Tuy nhiên, thực tế xuất hiện nhiều quan hệ pháp lý mới mà pháp luật thành văn chưa kịp thời dự liệu, văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc có sự mâu thuẫn, chồng chéo.

Án lệ là nguồn luật mang tính linh hoạt, được hình thành trực tiếp từ thực tiễn giải quyết các vụ việc cụ thể, có khả năng bổ khuyết kịp thời các khiếm khuyết của pháp luật thành văn. Về mặt thể chế, chính sách thừa nhận và áp dụng án lệ tại Việt Nam đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; được cụ thể hóa tại Điểm c Khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Mặc dù khung pháp lý đã được ban hành, thực tiễn áp dụng án lệ thương mại tại Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận án lệ dưới giác độ lý luận tổng quan hoặc áp dụng trong tố tụng dân sự nói chung. Chưa có một công trình chuyên khảo nào giải quyết trực tiếp và toàn diện cơ chế áp dụng án lệ trong lĩnh vực tranh chấp KDTM gắn liền với thẩm quyền xét xử của TAND và phán quyết của TTTM.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; phát hiện, đánh giá những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận về áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó chỉ ra các nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế khi thực hiện áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM tại TTTM và TAND ở Việt Nam.
  3. Xác định quan điểm và hệ thống giải pháp bảo đảm việc áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động áp dụng các án lệ thương mại của TAND và TTTM. Nguồn án lệ nghiên cứu bao gồm 09 án lệ thương mại do Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao công bố (các án lệ số: 08, 09, 11, 12, 13, 21, 36, 37, 43) và các án lệ thương mại quốc tế, trọng tâm là các án lệ giải thích, áp dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Tranh chấp KDTM được nghiên cứu gồm tranh chấp trong nước và tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam. Luận án tiến hành khảo sát xã hội học bằng phiếu thăm dò ý kiến tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đại diện cho ba miền:
    • Miền Bắc: Hà Nội, Nam Định, Quảng Ninh;
    • Miền Trung và Tây Nguyên: Đà Nẵng, Đắk Lắk;
    • Miền Nam: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An. Địa bàn điều tra bao gồm TAND cấp tỉnh và tối thiểu 2 đơn vị TAND cấp huyện tại mỗi địa phương.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2015 (thời điểm án lệ được chính thức thừa nhận và áp dụng theo Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP) đến năm 2021. Đồng thời, tác giả mở rộng nghiên cứu các giai đoạn lịch sử trước năm 2015 nhằm so sánh, minh họa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình trong nước theo 4 nhóm chủ đề chính:

  1. Nghiên cứu chung về án lệ: Sách chuyên khảo của Nguyễn Văn Nam (2012) phân tích so sánh lý luận và thực tiễn án lệ giữa hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ) và Dân luật (Pháp, Đức); Nguyễn Bá Bình (2019) nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn sử dụng án lệ trong đào tạo luật; Đỗ Thanh Trung (2020) nghiên cứu chức năng tạo lập và áp dụng án lệ của Tòa án tại Việt Nam; Lưu Tiến Dũng (2021) phân tích và luận giải các kết luận pháp lý từ Án lệ số 01 đến Án lệ số 43. Ở cấp độ đề tài, đề tài cấp Bộ của TAND tối cao năm 2012 đã đề xuất mô hình tiếp nhận án lệ theo truyền thống Dân luật, dẫn tới việc ban hành Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/12/2012. Bên cạnh đó là kỷ yếu hội thảo của Đại học Luật Hà Nội (2017) với các bài viết của Nguyễn Thị Hồi, Trần Thị Quyên, Lại Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Năm, Bùi Xuân Phái, Đỗ Thị Ánh Hồng, Hà Thị Út; luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Mai Hạnh (2011, Đại học Wollongong) nghiên cứu khả năng áp dụng án lệ Thông luật vào Việt Nam dựa trên lý thuyết tiếp nhận pháp luật (legal transplant theory); các bài viết của Trịnh Thục Hiền (2019), La Thị Quế (2019), Phạm Thị Thanh Xuân (2017), Nguyễn Ngọc Điện (2017), Lê Mạnh Hùng (2016), Châu Hoàng Thân (2016), Đỗ Văn Đại (2016), Đậu Công Hiệp và Hà Thị Phương Trà (2016), Ngô Cường (2016).
  2. Nghiên cứu về án lệ với vai trò nguồn pháp luật: Tài liệu hội thảo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2014); bài viết của Cao Việt Thắng (2019), Nguyễn Văn Quân (2018), Vương Tuyết Linh (2017), Trần Thị Diệu Hương (2017) phân tích giá trị bổ sung của án lệ đối với luật thành văn.
  3. Nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM: Cuốn sách của Phan Hoài Nam (2019) về thẩm quyền và pháp luật áp dụng đối với tranh chấp KDTM có yếu tố nước ngoài tại Tòa án; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Thắng (2015) nghiên cứu áp dụng tập quán giải quyết tranh chấp thương mại; bài viết của Triệu Thị Huỳnh Hoa (2012) chỉ ra các lỗ hổng của luật thương mại và đề xuất áp dụng án lệ bổ trợ.
  4. Nghiên cứu áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp KDTM: Kỷ yếu hội thảo của Đại học Luật Hà Nội (2017) về án lệ CISG trong thực tiễn TTTM quốc tế với các bài viết của nhóm CISGVN, Ngô Thị Ngọc Ánh, Phạm Minh Quốc, Đỗ Hồng Quyền; bài viết của Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Thị An Na (2018) về áp dụng án lệ trong việc giải quyết vụ việc dân sự.

Các hướng nghiên cứu nước ngoài

  1. Lý luận về án lệ: Công trình của Rupert Cross (1977, 1991) phân tích bản chất án lệ, nguyên tắc stare decisis và 3 nguyên tắc tuân thủ án lệ trong hệ thống pháp luật Anh; Vivienne O'Connor (2012) đối chiếu nguồn luật giữa Thông luật và Dân luật; Maltz (1988) nghiên cứu lịch sử và giá trị của tiền lệ tư pháp; René David luận giải vai trò thực tiễn xét xử là tiêu chí phân biệt giữa hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và Thông luật; J. Sauveplanne so sánh vai trò của Tòa án và Nghị viện trong hoạt động tạo lập án lệ.
  2. Mối quan hệ giữa pháp luật và phát triển kinh tế, thương mại: Sách của Kenneth W. Dam phân tích mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và tăng trưởng kinh tế; bài viết của Matthew C. Stephenson (2009) nhấn mạnh án lệ là nguồn luật bổ trợ thiết yếu cho các tranh chấp kinh tế; Paul G. Mahoney so sánh sự phát triển kinh tế giữa hệ thống Thông luật và Dân luật.
  3. Áp dụng án lệ trong lĩnh vực thương mại: Michael Kirby (2007) khẳng định án lệ là khung vận hành của hệ thống Tòa án Úc; E. Muradian (2007) bàn về thẩm quyền của Tòa án trong việc tạo tiền lệ giải quyết tranh chấp thương mại tại Nga; Konrad Zweigert và Hein Kötz (1984) chỉ ra sự cần thiết của việc vận dụng tiền lệ pháp trong tư pháp so sánh.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình khoa học trong và ngoài nước đã xây dựng nền tảng lý luận về án lệ và áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp nói chung. Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu về việc áp dụng án lệ thương mại để giải quyết các tranh chấp KDTM tại Việt Nam. Vấn đề thẩm quyền, thủ tục, kỹ thuật viện dẫn án lệ trong quan hệ thương mại tại cả hai thiết chế TAND và TTTM, cũng như việc lựa chọn mô hình án lệ phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ. Luận án lựa chọn giải quyết trực diện khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án được xây dựng dựa trên 4 trụ cột lý thuyết:

  • Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường.
  • Chủ trương cải cách tư pháp và chính sách phát triển án lệ của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết số 49/NQ-TW.
  • Cơ sở lý luận về hệ thống nguồn pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM (văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, án lệ).
  • Lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài (legal transplant theory) nhằm đánh giá mức độ tương thích và khả năng vận dụng các nguyên tắc án lệ từ hệ thống Thông luật và Dân luật vào thực tiễn Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu ở hai cấp độ:

Hệ thống nghiên cứu chung:

  • Câu hỏi nghiên cứu chung: Hiện ở Việt Nam có bắt buộc áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong KDTM hay không? Trong trường hợp nào thì áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong KDTM? Nguồn án lệ có đáp ứng nhu cầu để giải quyết các tranh chấp hay không? Thực tiễn xây dựng, công bố và sử dụng án lệ hiện nay ở Việt Nam có những bất cập gì và tại sao? Làm thế nào để khắc phục những bất cập liên quan đảm bảo hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về việc áp dụng án lệ trong thực tiễn Việt Nam hiện nay?
  • Giả thuyết nghiên cứu chung: Việt Nam hiện đã có quy định về áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong KDTM. Án lệ được áp dụng khi không có pháp luật thành văn điều chỉnh, không có tập quán, không thể áp dụng tương tự pháp luật hay các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Tuy nhiên, đây là một quy định tương đối mới so với quan điểm truyền thống về việc áp dụng luật ở Việt Nam. Thêm vào đó, số lượng nguồn án lệ thương mại là tương đối ít. Điều đó dẫn đến thực tiễn áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần có các giải pháp đồng bộ để khắc phục các bất cập liên quan.

Hệ thống nghiên cứu cụ thể:

  • Về lý luận:
    • Câu hỏi: Các khái niệm "án lệ", "tranh chấp KDTM", "giải quyết tranh chấp KDTM" và "áp dụng án lệ" được hiểu như thế nào? Áp dụng án lệ có vai trò và ý nghĩa như thế nào đối với phát triển thương mại? Vị trí của án lệ trong hệ thống nguồn luật ở các nước Thông luật, Dân luật và Việt Nam như thế nào?
    • Giả thuyết: Khái niệm "án lệ" theo quan niệm của Việt Nam có nhiều điểm khác so với một số quốc gia trên thế giới, các khái niệm "tranh chấp kinh doanh, thương mại", và "áp dụng án lệ" chưa được diễn giải đầy đủ ở Việt Nam. Việc áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp KDTM là hết sức cần thiết. Án lệ được xem là một loại nguồn của pháp luật ở các nước Thông luật, Dân luật cũng như ở Việt Nam hiện nay.
  • Về thực trạng pháp luật:
    • Câu hỏi: Môi trường xã hội và môi trường pháp lý ở Việt Nam có bảo đảm tốt cho việc áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp KDTM không? Các bất cập của pháp luật hiện hành liên quan tới áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại là những gì, và nguyên nhân của chúng là gì? Thực tiễn áp dụng án lệ hiện nay ở Việt Nam đã đạt được hiệu quả như kỳ vọng của các nhà lập pháp chưa?
    • Giả thuyết: Môi trường xã hội và môi trường pháp lý hiện tại chưa đáp ứng tốt cho việc áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM. Có nhiều bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành liên quan mà phần lớn là do nguyên nhân chủ quan. Tuy án lệ đã được thừa nhận ở Việt Nam, tuy nhiên việc vận dụng nó vào trong thực tiễn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
  • Về kiến nghị cải cách:
    • Câu hỏi: Có cần các kiến nghị đồng bộ về các cải cách liên quan không, và các kiến nghị đó bao gồm những gì?
    • Giả thuyết: Rất cần các kiến nghị đồng bộ về cải cách liên quan trong đó bao gồm: việc hoàn thiện phần lý luận về án lệ, hoàn thiện các quy định pháp luật và hoàn thiện một số giải pháp khác nhằm nâng cao khả năng thực thi của pháp luật về các quy định áp dụng án lệ trong thực tiễn tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm phương pháp chủ đạo. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, so sánh và hệ thống hóa: Vận dụng trong việc làm rõ các khái niệm lý luận, so sánh cơ chế án lệ giữa Thông luật và Dân luật, đối chiếu quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Luận án thiết kế 01 mẫu phiếu thăm dò ý kiến gửi tới Thẩm phán TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện tại 8 địa phương. Cách thức chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu mặc định (toàn bộ Tòa Kinh tế của 8 TAND cấp tỉnh) và chọn mẫu ngẫu nhiên (tối thiểu 2 đơn vị TAND cấp huyện thuộc địa bàn khảo sát).
Vùng khảo sát Địa phương khảo sát Đơn vị Tòa án được khảo sát Đối tượng khảo sát
Miền Bắc Hà Nội, Nam Định, Quảng Ninh TAND cấp tỉnh và tối thiểu 2 TAND cấp huyện Thẩm phán Tòa Kinh tế cấp tỉnh và Thẩm phán cấp huyện
Miền Trung và Tây Nguyên Đà Nẵng, Đắk Lắk TAND cấp tỉnh và tối thiểu 2 TAND cấp huyện Thẩm phán Tòa Kinh tế cấp tỉnh và Thẩm phán cấp huyện
Miền Nam TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An TAND cấp tỉnh và tối thiểu 2 TAND cấp huyện Thẩm phán Tòa Kinh tế cấp tỉnh và Thẩm phán cấp huyện
  • Phương pháp thống kê: Thu thập thông tin gián tiếp từ các báo cáo tổng kết xét xử của TAND các cấp, cổng thông tin công bố bản án, các tài liệu nghiên cứu đã xuất bản; thu thập dữ liệu trực tiếp từ kết quả xử lý phiếu thăm dò ý kiến của các Thẩm phán nhằm cung cấp các số liệu định lượng làm cơ sở đánh giá thực trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung: nghiên cứu chung về án lệ, án lệ với vai trò nguồn pháp luật, áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp KDTM.

Trên cơ sở điểm luận tài liệu, chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết thấu đáo việc áp dụng án lệ thương mại trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, đặc biệt là sự kết hợp giữa hai thiết chế TAND và TTTM. Từ khoảng trống đó, Chương 1 xác lập cơ sở lý thuyết, xây dựng hệ thống 1 câu hỏi nghiên cứu chung, 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể, cùng 1 giả thuyết chung và 3 giả thuyết cụ thể định hướng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Chương này tập trung làm rõ bản chất lý luận của án lệ và cơ chế áp dụng trong lĩnh vực KDTM:

  • Khái niệm và đặc điểm của án lệ: Án lệ xuất hiện từ thời La Mã cổ đại (thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên) dưới hình thức sắc dụ của các pháp quan (Edict magistratum). Trong hệ thống Thông luật, án lệ (case law) là nguồn chính thức mang tính bắt buộc gắn liền với nguyên tắc stare decisis và việc xác định lý do ra phán quyết (ratio decidendi). Trong hệ thống Dân luật, án lệ là nguồn bổ trợ mang tính tham khảo (court ruling). Tại Việt Nam, Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP xác định án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và Chánh án TAND tối cao công bố. Điểm khác biệt căn bản là án lệ Việt Nam không đồng nhất toàn bộ bản án mà chỉ chắt lọc phần lập luận, phán quyết chuẩn mực thông qua một quy trình lựa chọn, công bố mang tính hành chính tư pháp ngoài xét xử.
  • Phân biệt khái niệm: Phân biệt án lệ với tiền lệ pháp (tiền lệ pháp rộng hơn, gồm cả tiền lệ hành pháp); phân biệt án lệ với áp dụng tương tự pháp luật (áp dụng quy phạm của vụ việc tương tự trong khi án lệ vận dụng giải pháp từ bản án đã có); phân biệt án lệ với án mẫu (án mẫu hình thành trên nền tảng quy định pháp luật đã rõ ràng, trong khi án lệ xuất hiện khi có lỗ hổng hoặc khiếm khuyết của pháp luật).
  • Ưu điểm và nhược điểm của án lệ:
    • Ưu điểm: (1) Kịp thời khắc phục lỗ hổng của luật thành văn; (2) Mang tính thực tiễn cao; (3) Mang tính mềm dẻo, linh hoạt; (4) Thể hiện tính khách quan, công bằng; (5) Góp phần giải thích pháp luật; (6) Kích thích khả năng sáng tạo và lập luận của Thẩm phán, đồng thời hỗ trợ phòng ngừa tham nhũng tư pháp và bảo đảm xét xử thống nhất.
    • Nhược điểm: Thiếu tính hệ thống hóa so với luật thành văn; số lượng án lệ gia tăng nhanh gây khó khăn cho việc tra cứu (tại Anh mỗi năm xử lý 800 - 900 vụ án, Thượng nghị viện xử lý 50 - 70 vụ tạo án lệ); nếu quá lệ thuộc vào án lệ sẽ tạo tâm lý ỷ lại, cản trở việc hoàn thiện pháp luật thành văn.
  • Điều kiện bản án, quyết định trở thành án lệ: (1) Chứa đựng vấn đề pháp lý chưa có quy định hoặc quy định chung chung; (2) Thể hiện rõ quan điểm đánh giá chứng cứ và giải pháp pháp lý mới của Thẩm phán; (3) Do Thẩm phán tạo ra từ vụ việc thực tế; (4) Có hiệu lực pháp lý thấp hơn văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành.
  • Tranh chấp KDTM và nhu cầu áp dụng án lệ: Trình bày đặc điểm quan hệ thương mại (tính chất sinh lợi, tốc độ giao kết nhanh, tính rủi ro); khẳng định áp dụng án lệ là nhu cầu khách quan nhằm bảo đảm tính kịp thời, công bằng và dự liệu được của phán quyết tài phán.

Chương 3: Thực trạng áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Nội dung chương 3 phân tích thực trạng thể chế và thực tiễn thi hành:

  • Cơ sở pháp lý: Phân tích vị trí án lệ theo Luật Tổ chức TAND năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP; làm rõ nguyên tắc áp dụng (chỉ áp dụng khi không có luật, không có tập quán, không áp dụng được tương tự pháp luật), thẩm quyền viện dẫn và thủ tục áp dụng án lệ tại Tòa án.
  • Thực tiễn áp dụng tại TAND: Khảo sát và phân tích cụ thể 09 án lệ thương mại đã được công bố tính đến thời điểm nghiên cứu:
Số hiệu án lệ Lĩnh vực và nội dung pháp lý cơ bản của án lệ thương mại
Án lệ số 08/2016/AL Xác định lãi suất nợ quá hạn trong hợp đồng tín dụng thương mại
Án lệ số 09/2016/AL Xác định lãi suất nợ quá hạn của hợp đồng mua bán hàng hóa
Án lệ số 11/2017/AL Về việc công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Án lệ số 12/2017/AL Về việc xác định hiệu lực của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Án lệ số 13/2017/AL Hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không công chứng
Án lệ số 21/2018/AL Về việc bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng thương mại
Án lệ số 36/2020/AL Về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm và nghĩa vụ cung cấp thông tin
Án lệ số 37/2020/AL Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài khi doanh nghiệp chia tách
Án lệ số 43/2021/AL Về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của bên thứ ba
  • Thực tiễn áp dụng tại TTTM: Khảo sát việc viện dẫn các án lệ thương mại của TAND tối cao và các án lệ CISG tại VIAC; phân tích tính linh hoạt cũng như những rào cản về cơ chế áp dụng án lệ trong trọng tài thương mại do tính bảo mật phán quyết.
  • Kết quả đạt được và bất cập: Đánh giá số liệu thu được từ phiếu điều tra xã hội học tại 8 địa phương. Luận án chỉ ra các kết quả bước đầu (tạo cơ sở pháp lý giải quyết vụ việc phức tạp, nâng cao tính thống nhất) và các bất cập lớn: số lượng án lệ KDTM còn quá ít (09 án lệ); tiêu chí lựa chọn án lệ còn cứng nhắc; kỹ năng phân tích và viện dẫn án lệ của Thẩm phán cấp huyện, cấp tỉnh còn hạn chế; tâm lý ngại viện dẫn án lệ do lo ngại bị hủy, sửa án; cơ sở dữ liệu tra cứu chưa đáp ứng yêu cầu.

Chương 4: Quan điểm và các giải pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp:

  • Quan điểm định hướng:
    1. Áp dụng án lệ phải bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
    2. Áp dụng án lệ phải hướng đến mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật.
    3. Áp dụng án lệ đáp ứng tính phong phú, đa dạng và nhất quán trong giải quyết tranh chấp KDTM.
    4. Áp dụng án lệ phải bảo đảm sự tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức và quốc gia.
  • Hệ thống giải pháp:
    • Nhóm giải pháp hoàn thiện lý luận: Nâng cao nhận thức khoa học về bản chất của án lệ trong nền kinh tế thị trường; tiếp thu hợp lý học thuyết ratio decidendi và kỹ thuật phân biệt án lệ (distinguishing).
    • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP theo hướng đơn giản hóa quy trình đề xuất, công bố án lệ; xác lập rõ ràng giá trị pháp lý bắt buộc của phần kết luận pháp lý trong án lệ; quy định cơ chế cụ thể cho phép Hội đồng trọng tài viện dẫn án lệ chính thức; mở rộng nguồn bản án được đề xuất phát triển thành án lệ từ TAND cấp cao và TAND cấp tỉnh.
    • Nhóm giải pháp tổ chức thực thi: Đổi mới công tác đào tạo luật tại các cơ sở đại học gắn liền với phương pháp nghiên cứu tình huống (case-study); tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng viện dẫn, lập luận án lệ chuyên sâu cho Thẩm phán và Trọng tài viên; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử tích hợp án lệ thương mại và các phán quyết tương tự; ban hành cơ chế bảo vệ Thẩm phán khi áp dụng án lệ giải quyết vụ việc chưa có luật thành văn điều chỉnh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học của luận án

Theo công bố của tác giả trong phần Mở đầu, luận án có 4 đóng góp mới cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng án lệ giải quyết các tranh chấp trong KDTM; chỉ ra nhu cầu khách quan đòi hỏi phải áp dụng án lệ; phân tích hoạt động áp dụng án lệ ở các nước theo hệ thống Thông luật và Dân luật nhằm rút ra những gợi mở cho Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND và TTTM ở Việt Nam; tổng hợp các kết quả đạt được, chỉ ra những bất cập và phân tích các nhóm nguyên nhân của những bất cập đó.
  3. Phân tích và xác lập các quan điểm định hướng nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND và TTTM ở Việt Nam.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ (nhóm giải pháp lý luận, nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhóm giải pháp bảo đảm thực thi) nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp KDTM tại Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Về lập pháp: Sửa đổi, bổ sung quy định về án lệ trong Luật Tổ chức TAND và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao nhằm xác định rõ cơ chế áp dụng án lệ theo hướng kết hợp hài hòa giữa truyền thống Dân luật và các yếu tố hợp lý của Thông luật; làm rõ thẩm quyền giải thích pháp luật thông qua xét xử của Tòa án tối cao.
  • Về áp dụng: Ban hành hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật viện dẫn án lệ trong bản án thương mại; khuyến khích cơ chế công khai phán quyết trọng tài thương mại (có bảo mật thông tin đương sự) để tạo nguồn tư liệu nghiên cứu và đề xuất án lệ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu trong phạm vi 09 án lệ thương mại đã được TAND tối cao công bố và một số án lệ giải thích CISG, chưa bao quát được toàn diện các loại tranh chấp thương mại quốc tế mới nảy sinh.
  • Do điều kiện tổ chức nghiên cứu, phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dò ý kiến chỉ thực hiện tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Nam Định, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An), chưa khảo sát được toàn bộ 63 tỉnh, thành trên phạm vi cả nước.
  • Dữ liệu thực tiễn áp dụng án lệ tại TTTM chịu sự hạn chế do nguyên tắc bảo mật thông tin phán quyết của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng các án lệ thương mại mới được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tiếp tục lựa chọn và công bố sau thời điểm năm 2021.
  • Nghiên cứu cơ chế công bố và khai thác các phán quyết của Trọng tài thương mại tại Việt Nam làm nguồn tham khảo tương đương tiền lệ xét xử, phục vụ cho giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên luật: Chương 1 và Chương 2 cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về án lệ, lịch sử hình thành, sự khác biệt giữa Thông luật và Dân luật, lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài và các tiêu chí nhận dạng bản án trở thành án lệ.
  • Thẩm phán, Trọng tài viên, Luật sư: Chương 3 và Chương 4 cung cấp phân tích cụ thể về nội dung pháp lý của 09 án lệ thương mại tại Việt Nam, thực tiễn áp dụng án lệ CISG, đồng thời cung cấp kỹ thuật nhận diện, viện dẫn và đối chiếu tình tiết vụ việc với án lệ trong quá trình tranh tụng và xét xử.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật, TAND tối cao: Các phân tích bất cập về mặt quy phạm tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị sửa đổi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP tại Chương 4 là cơ sở tham khảo phục vụ quá trình hoàn thiện khung pháp lý về án lệ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu bao nhiêu án lệ thương mại đã được công bố tại Việt Nam và gồm những án lệ nào?

Luận án nghiên cứu toàn bộ 09 án lệ thương mại đã được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và công bố tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2021), bao gồm các Án lệ số: 08/2016/AL, 09/2016/AL, 11/2017/AL, 12/2017/AL, 13/2017/AL, 21/2018/AL, 36/2020/AL, 37/2020/AL và 43/2021/AL.

2. Khái niệm án lệ theo quy định của pháp luật Việt Nam có điểm gì khác biệt so với quan niệm của các nước Thông luật và Dân luật?

Theo Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, án lệ tại Việt Nam là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và Chánh án TAND tối cao công bố. Điểm khác biệt là: ở các nước Thông luật và Dân luật, án lệ chính là bản án, quyết định của Tòa án có chứa đựng giải pháp pháp lý mới và việc hình thành án lệ gắn liền trực tiếp với hoạt động xét xử; trong khi ở Việt Nam, án lệ chỉ là phần lập luận, phán quyết được tuyển chọn thông qua một quy trình xem xét độc lập ngoài hoạt động xét xử.

3. Luận án phân biệt khái niệm án lệ với "án mẫu" dựa trên những tiêu chí nào?

Điểm giống nhau là cả hai đều tạo ra phán quyết chuẩn mực để tham khảo cho các vụ việc tương tự sau đó. Điểm khác biệt là: án lệ chỉ xuất hiện khi hệ thống pháp luật có lỗ hổng, thiếu quy phạm điều chỉnh hoặc quy định mâu thuẫn; trong khi đó, án mẫu ra đời trên cơ sở pháp luật đã rõ ràng, vững chắc và đầy đủ quy phạm điều chỉnh. Ngoài ra, án lệ phản ánh quá trình sáng tạo giải pháp pháp lý của Thẩm phán, còn án mẫu vận dụng chặt chẽ các quy phạm pháp luật thành văn sẵn có.

4. Cuộc điều tra xã hội học của luận án được thực hiện tại những địa bàn nào và hướng tới đối tượng nào?

Khảo sát được thực hiện tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đại diện cho ba miền: Hà Nội, Nam Định, Quảng Ninh (miền Bắc); Đà Nẵng, Đắk Lắk (miền Trung và Tây Nguyên); TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An (miền Nam). Đối tượng khảo sát là Thẩm phán Tòa Kinh tế thuộc TAND cấp tỉnh (chọn mẫu mặc định) và Thẩm phán thuộc các TAND cấp huyện (chọn mẫu ngẫu nhiên tại ít nhất 2 đơn vị Tòa án cấp huyện của mỗi tỉnh).

5. Luận án xác định vị trí thứ bậc của án lệ so với các nguồn luật khác tại Việt Nam như thế nào?

Theo giả thuyết nghiên cứu và phân tích cơ sở pháp lý của luận án, án lệ tại Việt Nam giữ vị trí nguồn bổ trợ. Án lệ chỉ được áp dụng để giải quyết tranh chấp khi không có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, các bên không có thỏa thuận, không có tập quán áp dụng, và không thể áp dụng quy định tương tự pháp luật hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.


Kết luận

Luận án "Áp dụng án lệ để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thương là công trình khoa học pháp lý chuyên khảo về cơ chế vận hành của án lệ thương mại tại TAND và TTTM. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích chuẩn tắc quy phạm, luật học so sánh và điều tra xã hội học thực nghiệm tại 8 địa phương, luận án đã làm sáng tỏ bản chất của án lệ thương mại và chỉ ra các rào cản thể chế trong thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận, sửa đổi khung pháp lý về lựa chọn, công bố án lệ và nâng cao năng lực thực thi cho đội ngũ Thẩm phán và Trọng tài viên. Công trình đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống nguồn pháp luật thương mại Việt Nam.