Khám Phá 6 Nguyên Nhân Gây Nạn Thất Nghiệp Tại Châu Á - Thái Bình Dương

Báo cáo nghiên cứu chủ đề 6 nạn thất nghiệp ở châu á thái bình dương, thống kê phân tích số liệu, đánh giá xu hướng phát triển trong lĩnh vực hiện nay.

2020

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

I. Đặt vấn đề về nạn thất nghiệp

I.1. Khái niệm và phân loại loại hình của thất nghiệp

I.1.1. Khái niệm thất nghiệp

I.1.2. Phân loại loại hình thất nghiệp

I.2. Khái quát về thất nghiệp trên thế giới

I.3. Tình hình thất nghiệp trước đại dịch Covid – 19

I.4. Tình hình thất nghiệp do ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19

II. Hiện trạng nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

II.1. Khái quát tình hình chung của thị trường lao động của Châu Á – Thái Bình Dương

II.2. Thị trường lao động Châu Á – Thái Bình Dương trước khi bùng phát đại dịch COVID (năm 2019)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Những Nguyên Nhân Chính Gây Nạn Thất Nghiệp Ở Châu Á Thái Bình Dương

Nạn thất nghiệp là một vấn đề kinh tế - xã hội nhức nhối ở Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Bài viết này phân tích 6 nguyên nhân chính dẫn đến thất nghiệp ở khu vực này.

1.1. Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương Chưa Thích Nghi Kịp Với Chuyển Đổi Số

Chuyển đổi sốcông nghệ mới đang thay đổi nhanh chóng thị trường lao động. Nhu cầu về lao động công nghệ cao tăng mạnh, trong khi lao động tay nghề thấp ngày càng bị thay thế. Châu Á - Thái Bình Dương, với tỷ lệ lớn lao động lao động phổ thông, đang đối mặt với thách thức lớn trong việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động.

1.2. Hệ Thống Giáo Dục Đào Tạo Chưa Đáp Ứng Nhu Cầu Thị Trường Lao Động

Chất lượng giáo dục - đào tạo ở một số nước Châu Á - Thái Bình Dương chưa theo kịp với nhu cầu của thị trường. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường thiếu kỹ năng, khó tìm việc làm phù hợp.

1.3. Tăng Trưởng Kinh Tế Chậm Lại Đầu Tư Nước Ngoài Giảm Sút

Tăng trưởng kinh tế chậm lại, đặc biệt sau đại dịch COVID-19, khiến doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, giảm việc làm. Đầu tư nước ngoài cũng có xu hướng giảm, ảnh hưởng đến việc làm trong các khu công nghiệp, chế xuất.

1.4. Bất Bình Đẳng Thu Nhập Gia Tăng An Sinh Xã Hội Còn Hạn Chế

Bất bình đẳng thu nhập gia tăng khiến người nghèo, lao động thu nhập thấp càng khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở... Từ đó, hạn chế khả năng tham giaphát triển của họ trong thị trường lao động.

1.5. Chính Sách Việc Làm Còn Nhiều Hạn Chế

Chính sách việc làm ở một số nước Châu Á - Thái Bình Dương còn thiếu đồng bộ, chưa hiệu quả trong việc kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người thất nghiệp, thu hút đầu tư tạo việc làm.

1.6. Tác Động Của Đại Dịch COVID 19

Đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có thị trường lao động. Nhiều ngành nghề bị đình trệ, doanh nghiệp phá sản, giảm việc làm, tăng thất nghiệp.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề về nạn thất nghiệp 1. Khái niệm và phân loại loại hình của thất nghiệp 1. Khái niệm thất nghiệp Khái niệm thất nghiệp là gì có nhiều ý kiến và định nghĩa khác nhau. Luật Bảo hiểm thất nghiệp cộng hoà liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.

Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”.1 Thất nghiệp (unemployment) là tình trạng người lao động muốn có việc làm, nhưng không có việc làm. Cần chú ý rằng khi người lao động không có việc làm, máy móc, nhà xưởng và thiết bị tư bản cũng không được sử dụng vào sản xuất và do vậy sản lượng của nền kinh tế không đạt mức tiềm năng. Việc loại trừ thất nghiệp và sử dụng nguồn nhân lực nhàn rỗi để đặt được trạng thái đầy đủ việc làm là mục tiêu chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ mô.2 Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám đưa ra định nghĩa: Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây: ● Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm. 1 “Thất nghiệp là gì? Thất nghiệp được phân loại như thế nào” https://raffles-international-college-hcm.vn/that-nghiep-la-gi/, Truy cập ngày 14/4/2020 2 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân 4 Tieu luan ● Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn) hoặc đã thôi việc.

● Người không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định. ● Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Những định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng: 1) Có khả năng lao động 2) Không có việc làm 3) Đang đi tìm việc làm Ở Việt Nam, số liệu về thất nghiệp được thu thập từ Điều tra Lao động và Việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện (trước năm 2007) và Tổng cục Thống kê thực hiện (từ năm 2007 đến nay). Đây là cuộc điều tra chọn mẫu được thực hiện theo phương thức phỏng vấn trực tiếp.

Dựa vào trả lời cho các câu hỏi điều tra, mỗi người trưởng thành (từ đủ 15 tuổi trở lên) trong các hộ gia đình điều tra được xếp vào một trong hai nhóm, đó là nhóm dân số thuộc lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế, gồm có người có việc làm và người thất nghiệp) và nhóm dân số ngoài lực lượng lao động (hay còn gọi là nhóm dân số không hoạt động kinh tế). Người có việc làm: Theo Tổng cục Thống kê, người có việc làm là những người trong 7 ngày trước khi tiến hành điều tra đã làm việc ít nhất 1 giờ để tạo thu nhập hoặc làm cho gia đình mà không đòi hỏi tiền công. Gồm có: người làm công ăn 5 Tieu luan lương, người làm kinh doanh hoặc lao động trong ruộng vườn, trang trại của họ. Những người lao động tình nguyện, làm giúp (thanh niên tình nguyện, làm giúp người khác…), làm từ thiện, nhân đạo… thì không được tính là người có việc làm.

Người thất nghiệp: Theo Tổng cục Thống kê, người thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần điều tra không làm việc nhưng sẵn sàng làm việc và đang tìm việc làm. Tính trong tuần tham chiếu (7 ngày trước ngày phỏng vấn/điều tra), nhóm người thất nghiệp bao gồm cả những người hiện không làm việc nhưng đang chuẩn bị khai trương các hoạt động kinh doanh của mình hoặc nhận một công việc mới sau thời kỳ tham chiếu; hoặc những người luôn sẵn sàng làm việc nhưng đã không tìm kiếm việc làm do ốm đau tạm thời, bận việc riêng (lo hiếu, hỷ…), do thời tiết xấu, đang chờ thời vụ… Người không thuộc lực lượng lao động: Gồm những người không thuộc hai nhóm trên. Chẳng hạn sinh viên đang theo học hệ tập trung dài hạn, người nội trợ, người đã nghỉ hưu hoặc không có khả năng lao động…3 1. Phân loại loại hình thất nghiệp: a.

Thất nghiệp tạm thời: Trong hầu hết các thị trường, giá cả điều chỉnh để cân bằng cung cầu. Trong thị trường lao động lý tưởng, tiền lương sẽ điều chỉnh để triệt tiêu tình trạng thất nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là ngay cả khi nền kinh tế vận hành tốt thì thất nghiệp vẫn tồn tại. Thất nghiệp tạm thời bắt nguồn từ sự dịch chuyển bình thường của thị 3 Bài giảng “Thất nghiệp” – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân http://eldata3.vn/ECO102/Giao%20trinh/05.NEU_ECO102_Bai5_v1.pdf, Truy cập ngày 14/4/2021 6 Tieu luan trường lao động.

Một nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế có sự ăn khớp giữa lao động và việc làm. Trong một nền kinh tế phức tạp, chúng ta không thể hy vọng những sự ăn khớp như vậy xuất hiện tức thì vì trên thực tế người lao động có những sở thích và năng lực khác nhau, trong khi việc làm cũng có những thuộc tính khác nhau. Hơn nữa, các luồng thông tin về người muốn tìm việc và chỗ làm việc còn trống không phải lúc nào cũng trùng pha, ăn khớp cũng như sự cơ động về mặt địa lý của người lao động cũng không thể diễn ra ngay lập tức. Như vậy, chúng ta cần phải dự tính và phải coi một mức thất nghiệp nhất định là cần thiết và đáng mong muốn trong các xã hội hiện đại.

Người lao động thường không nhận ngay công việc đầu tiên được yêu cầu và doanh nghiệp không thuê người lao động đầu tiên nộp đơn xin việc. Trái lại, họ cần bỏ ra thời gian và sức lực cần thiết để tạo ra sự ăn khớp tốt nhất giữa người lao động và doanh nghiệp. Ví dụ, sau khi tốt nghiệp đại học, bạn cần phải có khoảng thời gian cần thiết để đi tìm việc làm. Trong thời gian đó bạn được tính là thất nghiệp.

Loại thất nghiệp này được gọi là thất nghiệp tạm thời. Thất nghiệp cơ cấu: Thất nghiệp cơ cấu phát sinh từ sự không ăn khớp giữa cung và cầu trên các thị trường lao động cụ thể. Mặc dù số người đang tìm việc làm đúng bằng số việc làm còn trống, nhưng người tìm việc và việc tìm người lại không khớp nhau về kỹ năng, ngành nghề hoặc địa điểm. Ví dụ, một công nhân bậc 7 có thể làm việc hơn 25 năm trong ngành dệt nhưng có thể trở thành người thất nghiệp ở tuổi 50 khi ngành dệt đang bị thu hẹp do đối mặt với sự cạnh tranh từ phía nước ngoài.

Người công nhân này có thể phải đào tạo thêm một kỹ năng mới mà nền kinh tế lúc đó đang có nhu cầu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có thể không muốn tuyển và đào tạo những công nhân lớn tuổi nên người công nhân này sẽ trở thành nạn nhân của tình trạng thất nghiệp cơ cấu. Thất nghiệp theo lý thuyết Cổ điển: Một nguyên nhân khác góp phần giải thích tại sao chúng ta quan sát thấy có một số thất nghiệp ngay cả trong dài hạn là sự cứng nhắc của tiền lương thực tế. Mô hình 7 Tieu luan Cổ điển giả định rằng tiền lương thực tế điều chỉnh để cân bằng thị trường lao động, đảm bảo trạng thái đầy đủ việc làm.

Điều này phù hợp với cách tiếp cận cân bằng thị trường, đó là giá cả sẽ điều chỉnh để đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là thất nghiệp luôn tồn tại. Các nhà kinh tế Cổ điển cho rằng các lực lượng khác nhau trên thị trường lao động, gồm có luật pháp, thể chế và truyền thống, có thể ngăn cản tiền lương thực tế điều chỉnh đủ mức để duy trì trạng thái đầy đủ việc làm. Nếu tiền lương thực tế không thể giảm xuống mức đầy đủ việc làm thì thất nghiệp sẽ xuất hiện.

Loại thất nghiệp này thường được gọi là thất nghiệp theo lý thuyết Cổ điển. Ba nguyên nhân chủ yếu có thể làm cho tiền lương thực tế cao hơn mức cân bằng thị trường trong các nền kinh tế hiện đại, đó là: luật tiền lương tối thiểu; hoạt động công đoàn; và tiền lương hiệu quả. Cả ba lý thuyết này đều giải thích lý do tiền lương thực tế có thể duy trì ở mức “quá cao” khiến một số người lao động có thể bị thất nghiệp. Thất nghiệp chu kỳ: Thất nghiệp chu kỳ (thất nghiệp theo lý thuyết Keynes) là loại thất nghiệp được tạo ra trong tình trạng nền kinh tế suy thoái.

Thất nghiệp chu kỳ giống như trò chơi xếp ghế với số chiếc ghế < số người chơi. Cuộc đại suy thoái là một ví dụ tiêu biểu. Việc tăng đột ngột về tỷ lệ thất nghiệp bắt đầu vào năm 1930 không phải do bất cứ sự gia tăng nào trong một quá trình dài hoặc sự giảm sút đột ngột về kỹ năng của nhân công. Thay vào đó, tỷ lệ thất nghiệp cao dai dẳng trong một thập kỷ là do sự giảm sút đột ngột về nhu cầu hàng hóa và dịch vụ.

Điều này xảy ra trong một giai đoạn suy thoái hoặc tăng trưởng rất thấp. Nếu có nhu cầu tổng hợp chưa đầy đủ thì các công ty sẽ cắt giảm sản lượng. Nếu họ cắt giảm sản lượng thì cũng sẽ cắt giảm nhân công, tiến đến sa thải hay giảm việc tuyển dụng lao động. Nền kinh tế càng suy thoái thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ càng tăng.

Tình trạng 4 Bài giảng “Thất nghiệp” – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân http://eldata3.vn/ECO102/Giao%20trinh/05.NEU_ECO102_Bai5_v1.pdf, Truy cập ngày 14/4/2021 8 Tieu luan thất nghiệp đại chúng vào những năm 1930 của thế kỷ XX đã chứng minh cho quan điểm này. Khái quát về thất nghiệp trên thế giới: 2. Tình hình thất nghiệp trước đại dịch Covid – 19: Theo báo cáo về “Xu hướng việc làm của thanh niên trên thế giới năm 2017” của ILO, năm 2017, hơn 35% số người thất nghiệp trên thế giới là thanh niên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

6 Nguyên Nhân Chính Gây Nạn Thất Nghiệp Ở Châu Á - Thái Bình Dương là một tài liệu phân tích sâu về các yếu tố dẫn đến tình trạng thất nghiệp tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Tài liệu này không chỉ chỉ ra 6 nguyên nhân chính như sự chuyển dịch kinh tế, thiếu kỹ năng phù hợp, và tác động của công nghệ, mà còn cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các quốc gia trong khu vực có thể đối phó với thách thức này. Đọc tài liệu này, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về bối cảnh thị trường lao động và tìm được giải pháp tiềm năng cho vấn đề thất nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về chính sách việc làm và bảo trợ xã hội, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ về chính sách việc làm và bảo trợ xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp góc nhìn chuyên sâu về các vấn đề liên quan đến lao động và an sinh xã hội, đặc biệt là đối với nhóm người cao tuổi, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này.