CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRE CHAM PHAT TRIEN TRi TUE 6 TIEU HQC 1. Một số khái lệm có liên quan 1. Trẻ CPTTT “Trẻ CPTTT được định nghĩa khác nhau theo các tiêu chí khác nhau: theo kết quả trắc nghiệm IQ, theo mức độ KNTPV, theo nguyên nhân, theo quan điểm tổng, hợp.
'Theo kết quả trắc nghiệm IQ ABinet & T.Sion, 1995 dã công bố “trắc nghiệm trí tuệ" nhằm phân biệt trẻ học kém bình thường và học kém do CPTTT. Tuy nhiên nó bộc lộ vô vàn những nhược điểm: Đó là chỉ số IQ không phản ánh hết tiềm năng trí tuệ, IQ không tí lệ thuận với KNTPV; do IQ bị chỉ phối bởi các yếu tố văn hóa. điều kiện xã hội dẫn đến không chính xác [Ö, tr 16]. “Theo mức độ KNTPV : Benda Mỹ.
năm 1954 dã dua ra CPTTT theo tiêu chí. Theo cách tiếp cận này cũng có những nhược điểm nhất định như sau: Có người khó khăn ở môi trường này nhưng không ở môi trường khác (yếu tố văn hóa) tiêu chí thích ứng khá mờ: Sự kém KNTPV có thể có nguyên nhân khác CPTTT. Theo nguyên nhân: LuRia, nhà tâm lí học người Nga, 1966 đưa ra cách tiếp cận này. Tuy nhiên theo cách tiếp cận này cũng có những hạn chế nhất định: đó là một số người CPTTT nhưng không phát hiện được tốn thương, khiếm khuyết trong hệ thần kinh của họ [Ö, tr].
Chính vì những hạn chế trên, ngày nay người ta tiếp cận theo quan điểm tổng hợp. Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mĩ (AAMR) & số tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần TV( DSM-IV) có định nghĩa trẻ CPTTT theo cách tiếp cận nảy. Ở Việt Nam sử dụng khái niệm CPTTT của D§M - IV & của AANR [6, tr 6]. Theo Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mĩ (AAMR), 2002 cho rằng: CPTTT là loại khuyết tật được xác định bởi hạn chế đáng kẻ về hoạt động trí tuệ và hành vi thích ứng thể hiện ở kĩ năng nhận thức, xã hội và KNTPV thực tế, khuyết tật trước 18 tuổi.
Theo số tay chẩn đoán và thống kê, những rồi nhiễu tâm thần IV ( DSM - IV), tiêu chí chẩn đoán bao gồm: chức năng trí tuệ dưới mức trung bình, tức là chỉ số trí tuệ đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên 1 lần trắc nghiệm cá nhân. Bị thiếu hụt hoặc thiếu ít nhất 2 trong số những năng lực KNTPV sau: tự chăm sóc, sống tại gia đình, các KN xã hội / liên cá nhân, sử dụng các phương tiện cộng đồng, tự định hướng, KN học đường chức năng, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn. Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi [5, tr 7]. Trong khái niệm này đã cung cấp những hướng dẫn cụ thể cho việc xác định những dấu hiệu đặc trưng của tật CPTTT theo quan điểm do lường và thống nhất trong 3 tiêu chí để xác định 1 trẻ CPTTT là: hạn chế về trí thông minh, KNTPV, xuất hiện trước 18 tuổi [10, tr 8].
Kĩ năng tự phục vụ KNTPV là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình, ví dụ như: tự mặc quan áo, tự vệ sinh cá nhân, tự chuẩn bị sách vở, ăn tự bê bát. Dạy kĩ năng tự phục vụ Dạy KNTPV là dùng lời nói hay các hình ảnh trực quan dễ giải thích cho trẻ CPTTT về tình huống hay công việc cho trẻ CPTTT hiểu để các em phục vụ cho chính mình, ví dụ như tự mặc quần áo, tự vệ sinh cá nhân, tự chuẩn bị sách vở, ăn tự bê bát. Một số đặc điểm của trẻ CPTTT Học sinh CPTTT có những đặc điểm phát triển hết sức đặc trưng về nhận thức, KN xã hội và hành vi, thái độ. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi đã đề cập đến một số đặc điểm cơ bản trong các lĩnh vực phát triển của học sinh CPTTT liên quan trực tiếp đến quá trình hình thành KNTPV cho học sinh CPTTT.
Đặc điễm về thể chất Một số trẻ CPTTT có vóc đáng không bình thường. Trẻ CPTTT thường có bệnh hoặc hội chứng thực thể, tâm thần đi kèm với khuyết tật CPTTT, nên có 6 nhu cầu về chăm sóc y tế. Đây chính là vấn đẻ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hằng ngày của trẻ CPTTT. Điều này ảnh hưởng đến tính tích cực trong quá trình dạy và học các KNTPV mới [10, tr 15].
Đặc điểm về hoạt động nhận thức. Cảm giác, trí giác: Tính không phân biệt thể hiện rõ và thụ động trong cảm giác, trí giác. Điều này làm khó khăn trong việc học các KNTPV. Chú ý, liên quan trực tiếp đến khả năng tập trung.
Khả năng chú ý của trẻ CPTTT thường có đặc điểm: 1) Khó tập trung trong thời gian dài, đễ bị phân tán, khó tập trung cao vào các chỉ tiết; 2) Kém bền vững, thường chuyển từ hoạt động chưa hoàn thành sang hoạt động khác; 3) Luôn bị phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó kiên nhẫn đợi đến lượt, khó kiềm chế phản ứng. Điều này sẽ gây khó khăn cho trẻ trong việc hình thành các KNTPV mới [10, tr 17]. Từ dhy: Ba đặc điểm nỗi bật về tư duy của trẻ CPTTT là tư duy mang tính cụ thể - trực quan, thiếu tính liên tục trong tư duy và yếu tố vai trò điều chỉnh của tư duy tất hạn chế. Trẻ gặp khó khăn trong việc thiết lập sự hợp tác trong các mối quan hệ mới [10, tr 18].
Trí nhớ: là một trong những đặc điểm đặc trưng của học sinh CPTTT gắn liền với hiện tượng lâu nhớ mau quên. Quá trình ghỉ nhớ chậm chạp, kém bền vững, không đầy đủ và chính xác. Các em thường dễ quên cái gì không liên quan, không phù hợp với nhu cầu và mong đợi của bản thân, ghỉ nhớ dấu hiệu bên ngoài tốt hơn các dấu hiệu bên trong, khó nhớ những gì có tính khái quát, trừu tượng, quan hệ logic và khả năng ghi nhớ máy móc, khó ghi nhớý nghĩa. Chính vì vậy các em gặp nhiều khó khăn khi phải đối mặt với những tình huống không, quen thuộc, trừu tượng, đòi hỏi khả năng khái quát cao [10, tr 19].
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ CPTTT chậm hơn so với trẻ bình thường cùng độ tuổi. Trẻ khó khăn trong việc hiểu lời nói của người khác, chậm biết nói, vốn từ ít và nghèo nàn, từ tích cực ít, từ thụ động nhiều. Trẻ thường phát âm sai, phân biệt âm kém, nói sai ngữ pháp nhiều, ít sử dụng tính từ, động từ,. và không nắm được quy tắc ngữ pháp.
Đặc điểm này gây trở ngại cho trẻ trong việc tiếp thu và áp dụng những kiến thức mới, thiết lập các mối quan hệ mới [10, tr 20]. Đặc điểm về KN xã hội Trẻ CPTTT thường khó khăn trong các tình huống như : chơi cùng nhau, làm cùng nhau, lắng nghe người khác nói, luân phiên chờ đến lượt mình, khó biểu hiện được thái độ đúng mực và phù hợp với ai đó hay với mọi người trong những tình huống cụ thể và khó nhận biết thái độ, ý định của người khác qua những biểu hiện trên nét mặt hay thay thế. Vì vậy, trẻ gặp khó khăn trong việc hình thành những KNTPV ở trường [ 10, tr 20].Đặc điểm về hành vỉ Đặc điểm hành vi trẻ CPTTT rất phong phú, phức tạp và rất phức tạp. Những biểu hiện hành vi trẻ CPTTT phụ thuộc rất nhiều vào tương tác xã hội sớm để có được cách thể hiện những mong muốn bản thân, nhận thấy mình có ý nghĩa và mong muốn tương tác với người khác.
Vì vậy cần xây dựng “vòng tay bạn bè” giúp trẻ nhanh chóng hình thành được những KNTPV trong môi trường hòa nhập [10, tr21]. Đặc điểm về kĩ năng tự phục vụ Thiếu hoặc yếu một số kĩ năng đơn giản: rửa tay, rửa mặt, ăn uống, đi vệ sinh đánh răng, mặc quần áo, tự chuẩn bị sách vở và dụng cụ học tập. Các kĩ năng tự phục vụ cần thiết đối với trẻ CPTTT ở tiểu học TKT trí tuệ không chỉ gặp khó khăn trong học tập mà còn gặp khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Một trong những hoạt động sinh hoạt hàng ngày phải kể đến là KNTPV.
Chương trình dạy KNTPV không chỉ được các nước trên thế giới quan tâm mà ở Việt Nam cũng rất quan tâm đến nội dung này. Và đã được lên kế hoạch dạy cụ thể trong chương trình dạy trẻ CPTTT ở các trường chuyên biệt (trường dành riêng cho trẻ khuyết tật). Trong những năm đầu đời của trẻ, tự chăm sóc, vui chơi và các KN cần có trước khi bước vào tiểu học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Những KNTPV hàng ngày mà trẻ cần phải làm dược.
Trẻ em thường học các KN tự chăm sóc tại môi trường gia đình trước khi bắt 8 đầu đi học. Những trẻ gặp khuyết tật về trí tuệ có thể học hỏi và tiếp thu những KN này chậm hơn và cần nhiều trợ giúp ở nhà và ở trường. Các KN sống hằng ngày là những KN thực tế mà một đứa TKT cần có để có thể sống tự lập hoặc có một cuộc sống bình thường hơn. Các KN cơ bản được bao gồm như: Ăn uống, mặc quần áo, tắm rửa, rửa mặt, đánh răng, tự đi vệ sinh, tự chuẩn bị sách vở và dụng, cụ học tập đây đủ,.
* Một số KN phức tạp hơn như: ~ Đi chợ, tự đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng, tham gia các hoạt động xã hội, như là sinh nhật, đám cưới, đám ma,. Làm một số việc nhà hữu ích, như là cho gà, cho cá ăn hay phơi quần áo.Xử lý những tình huống khẩn cấp, ví dụ như phải biết làm gì khi ai đó bị tai nạn, biết lúc nào thì nên gọi 115. Các hoạt động đơn giản có liên quan đến công việc/việc làm, như là pha trà và cà-phê, giúp gia đình mở cửa hàng, hay chuẩn bị bữa ăn,. Những vấn đề lý luận về việc hình thành KNTPV cho trẻ CPTTT 1.
Cơ sở khoa học của việc hình thành KNTPV cho trẻ CPTTT 1. Mối quan hệ giữa trí tuệ của trẻ CPTTT với KNTPV KNTPV và trí tuệ chính là 2 mặt biểu hiện năng lực toàn diện của con người: Hai nhân tố này có mối quan hệ tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh sống và phát triển của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu đã sử dụng trí tuệ và KNTPV là 2 nhân tố để xác định tình trạng CPTTT.