Chương 1: NHUNG VAN DE LIEN QUAN BEN DE TAI 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức từ nhiều phía với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người những hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội. Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nhân cách con người mới. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài được diễn ra ngay từ khi còn thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí suốt cả cuộc đời. Đối với trẻ thơ, giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về những yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các mới quan hệ ứng xử hàng ngày.
Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con người Việt Nam mới.2 Biện pháp giáo dục đạo đức Theo cuốn từ điển tiếng Việt — Viện ngôn ngữ học 2005- Trung tâm từ điển học - nhà xuất bản đà nẵng khái niệm biện pháp được giải thích: “Biện pháp là cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn dé cu thé.” Biện pháp giáo dục là những tác động riêng biệt của giáo viên trong mỗi phương pháp cụ thể. Biện pháp giáo dục đạo đức là cách làm cách hành động cụ thể để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức. 12Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức đối với trẻ em lứa tuổi mầm non Sinh ra không phải trẻ đã có đạo đức, nhân cách mà đó là kết quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục. Bàn về vấn đẻ này, Hồ Chi Minh khẳng định: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phân nhiều do giáo đục mà nên” Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu đài được diễn ra ngay từ khi còn thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí suốt cuộc đời.
Vì thế việc giáo dục đạo đức cần phải bắt đầu ngay từ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và phải coi đây là một vấn đẻ trung tâm. Đối với trẻ mầm non, dưới tác động giáo dục của người lớn, dưới tác động sư phạm của nhà giáo dục, bằng những kinh nghiệm trực tiếp ngay từ những năm đầu tiên của cuộc đời, đứa trẻ đã có thể nắm được những khái niệm, những biểu tượng đạo đức sơ đẳng như tốt, xấu, ngoan, hư, cái gì được phép làm và cái gì không được phép làm. Trẻ bắt đầu có những hành vi phù hợp với những khái niệm đó và dan dần trẻ biết đánh giá về những điều ấy. Nhờ đó mà những biểu tượng, khái niệm đạo đức, hành vi đạo đức được hình thành nhanh chóng ở trẻ và những ấn tượng đầu tiên đó thường để lại dấu ấn suốt đời, bởi vậy nếu ngay từ lứa tuổi mầm non chúng ta chú trọng giáo dục cho trẻ những khái niệm, hành vi đạo đức đúng đắn sẽ đặt cơ sở, nền tảng cho bộ mặt đạo đức mai sau của trẻ, đồng thời tạo cho trẻ một động lực quan trọng giúp trẻ phát triển và hành động đúng hướng trong quá trình trưởng thành.
Mặt khác, ở giai đoạn tuổi mẫu giáo, tính hình tượng và tính dễ cảm xúc chỉ phối mạnh hoạt động tâm lí của trẻ, khiến trẻ để đồng cảm với những người xung quanh, với thiên nhiên và cuộc sống. Cho nên đây là giai đoạn hoàng kim để giáo dục lòng nhân ái và những phẩm chất đạo đức cho trẻ. Đây cũng là thời điểm thuận lợi để xây dựng nên tảng đạo đức cho mỗi người. Do vậy cần phải giáo dục đạo đức cho trẻ dù là những khái niệm sơ đẳng nhất, nhưng chính xác và phản ánh được đạo đức của xã hội, mang bản sắc dân tộc Việt Nam.
Đồng thời người lớn cần phải uốn nắn những nhận thức, hành vi thái độ lệch chuẩn của trẻ ngay từ bé, tránh để những lệch lạc ấy trở thành thói quen khó sửa, khó uốn. Hơn nữa đối với trẻ mầm non, giáo dục đạo đức còn ảnh hưởng tới việc giáo dục thể chất, lao động, trí tuệ và tham mĩ cho trẻ: + Đối với trí dục: giáo dục đạo đức là tiền đề cần thiết để mở rộng hiểu biết về quan hệ đạo đức (giữa cá nhân với nhau, cá nhân với tập thẻ). Hình thành, phát triển khả năng nhận xét, đánh giá các thái độ, hành vi đạo đức của bản thân, của người khác. + Đối với giáo dục thẩm mĩ: trình độ phát triển đạo đức có ảnh hưởng, mạnh mẽ đến giáo dục thẩm mĩ.
Những xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực, những hành vi văn minh là cơ sở của giáo dục thẩm mĩ. Chẳng hạn trẻ thích sạch sẽ, gọn gàng trong sinh hoạt cá nhân, tập thé, thích làm được nhiều việc tốt giúp đỡ cô giáo, cha mẹ, bạn bè. đó chính là giúp trẻ biết hướng tới cái đẹp, thích cái đẹp và có mong muốn được tạo ra cái đẹp. + Đối với giáo dục thể chất và lao động: việc giáo dục đạo đức cho trẻ có những thói quen hành vi sạch sẽ, văn minh, thích làm những công việc vừa sức như tự xúc ăn, làm các công việc giúp đỡ cô giáo, cha mẹ, bạn bè.
lấy thìa, bát đĩa, đồ chơi. chính là góp phần phát triển thể lực và giáo dục thói quen lao động cho trẻ.3 Vai trò của tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ 5-6 tuổi thong qua LQVH Bộ môn VH nói chung và VH trẻ thơ nói riêng là kho tàng quý báu được khai thác không ngừng phục vụ cho việc bồi dưỡng tâm hồn trẻ. Đặc biệt là các tác phẩm VH dành cho trẻ mầm non với hình tượng nghệ thuậtgần gũi phù hợp với nhận thức của trẻ được áp dụng theo từng lứa tuổi. Đã từng chắp cánh cho trẻ vươn tới bao ước mơ, bao điều tốt đẹp.
Van hoc là một loại hình nghệ thuật mà trẻ thơ được tiếp xúc rất sớm. Ngay từ thuở ấu thơ các em đã được làm quen với các giai điệu nhẹ nhàng, thiết tha của lời hát ru. Lớn hơn một chút, các câu chuyện dân gian, các tác phẩm thơ truyện hiện đại đã gieo vào lòng các em sự mến yêu với thế giới xung quanh, giúp cho các em hiểu về truyền thống lao động, chiến đấu bền bỉ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc. Thơ, truyện cũng dẫn dắt các em đi khắp mọi miền đất nước, giới thiệu cho các em những danh lam thắng cảnh như: “ Đông Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh ” Hay “sự tích vịnh Hạ Long”, chỉ cho các em xem những cây trái của Việt Nam, làm cho các em vui vầy với những con vật như: gà, vịt, ngan, ngỗng, tu hú, bồ các, chim ri, sáo sậu.
Cùng với việc mở rộng nhận thức về thiên nhiên, truyện, thơ còn mở rộng, nhận thức cho các em về xã hội. Qua đó trẻ em biết được nỗi vất và khó nhọc của người nông dân để làm ra thóc gạo (Hạt gạo làng ta), quá trình sản xuất ra những, đồ dùng, đồ chơi (Cái bát xinh xinh), truyền thống chống giặc ngoại xâm anh hùng của cha ông (Sự tích Hồ Gươm, Chú giải phóng quân). Những phong tục tập quán cổ truyền tốt đẹp cũng đén với tuổi thơ qua những tác phẩm văn học: *“Sự tích bánh trưng bánh dày”, “Cây đào”. Văn học là một phương tiện giáo dục hiệu nghiệm.
Hình tượng văn học có sức lôi cuốn trẻ thơ. Nó tác động mạnh mẽ lên tình cảm của các em. Những bài học giáo dục đến với các em một cách tự nhiên không gò bó, không mang tính giáo huấn bắt buộc. Trẻ em nhận ra tình yêu thương của ông bà, cha mẹ đối với các em qua sự chăm sóc, ân cần, chu đáo: Bà quạt cho Tích Chu ngủ, có thức gì ăn ngon bà cũng nhường cho Tích Chu (truyện Tích Chu); mẹ dặn bé phải đi đường thẳng, phải đi theo mẹ, theo bẩy (truyện Cô bé quảng khăn đỏ, truyện Chú vịt xám) từ đó các em biết quý trọng, biết ơn ông bà, cha mẹ.
Trẻ thơ sẽ học ở các tác phẩm những hành động đẹp trong đối xử với anh, chị, em, bạn bè. Các em sẽ biết nhường nhịn, giúp đỡ người thân trong gia đình cũng như bạn bè ngoài xã hội (Làm anh, Bảy con quạ, Hai chú bướm, Đón bạn, Gấu qua cầu).Những tình cảm lớn lao như yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào cũng dần được hình thành trong các em qua tác phẩm: Thánh Gióng, Sự tích trăm trứng. Ngoài ra VH còn dạy các em ý thức chăm chỉ lao động ( Bà chúa. Tuyết), lòng dũng cảm (Chú Dê Đen), sự khiêm tốn (Chú Gà Trồng kiêu căng).
Văn học góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em. Các em cảm nhận những vẻ đẹp trong mối quan hệ giữa con người với con người, vẻ đẹp trong các hành động cao thượng của các nhân vật trong tác phẩm. Những tác phẩm viết về đề tài thiên nhiên tạo cho các em sự rung cảm với vẻ đẹp của tự nhiên. Tiếp xúc với tác phẩm văn học, các em còn được làm quen với ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc.
Đây là điều kiện để các em phát triển vốn từ, rèn luyện cách nói diễn cảm, cách nói giàu hình ảnh quen thuộc của cha ông như cách nói so sánh “Trăng hồng như quả chín”, cách nói nhân hóa “hoa yêu mọi người, nên hoa kết trái” Tóm lại: Văn học có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục trẻ thơ, là những giáo viên mầm non chúng ta cần biết lựa chọn và sử dụng một cách thích hợp các tác phẩm văn học để phát huy hết tác dụng của phương tiện này.4 Đặc điểm xúc cảm, tình cảm của trẻ 5-6 tuổi. “Tình cảm, xúc cảm: do trẻ không tự mình đọc được, không có điều kiện tự nhận ra những âm vang chứa đựng ý nghĩa của từ, câu, đoạn. Tính liên tục liền mạch của nội dung thường bị gián đoạn, trẻ không chủ động tìm đến tác phẩm mà phải dựa vào cách đọc, cách kế của người lớn. Trẻ mẫu giáo thường không, làm chủ được cảm xúc của mình, trẻ dễ bị xúc động.
Vấn đề quan trọng của trẻ không phải tri thức mà là cảm xúc, đó là năng lực hoá thân của trẻ, cái nhìn ngây thơ đối với các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên, tự đồng nhất mình với nhân vật, cũng như hoà mình vào thiên nhiên. Suy nghĩ của trẻ xuất phát từ bản thân, lấy bản thân làm trung tâm và chỉ hướng vào bản thân mình là chính. Việc cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ mang đậm màu sắc cảm xúc.