Chương I. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Chương II. Thực trạng kĩ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên ĐHGDTH KI0 - DH Quang Nam. Một số biện pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên đại học giáo dục tiểu học k10 ~ Đại học Quảng Nam PHAN NOI DUNG CHUONG I.
CO SO Li LUAN CUA VAN DE NGHIEN CUU 1. Lich sir van đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Từ lâu, giao tiếp đã trở thành một vấn đề rát được quan tâm nghiên cứu. Tắt cả các nhà tâm lí học đều khẳng định vai trò của giao tiếp với cuộc sống và sự hình thành nhân cách con người.
Giao tiếp đã thu hút tất cả các nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới: thời cỗ đại như Socrates, Platon, Aristoteles.sau này đến các nhà tâm lý học hiện đại như Anna Freud, E.Bodaliov khi khai mạc Hội nghị khoa học “Giao tiếp với tư cách là đối tượng của các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn” đã nói: “Trong hoạt động. giao tiếp có thể tìm thấy sự thê hiện tổng hợp của tất cả các đặc trưng cơ bản của con người như là một thành viên của xã hội, như là một chủ thê hoạt động nhận thức và sáng tạo". Vì vậy giao tiếp thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý. Cho đến nay trên thế giới việc nghiên cứu giao tiếp trở thành một hệ thống, một ngành khoa học riêng: Tâm lý học giao tiếp.
Năm 1956 ba tác giả người Mỹ: Johnson, Lgrrison, M.Schlekamp đã viết cuốn sách về “giao tiếp”, để cập mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp với sự tiến bộ trong. trường dại học của sinh viên, cách biểu lộ tình cảm, phát triển kỹ năng bình luận. Năm 1960, Bavelá (Pháp) tiền hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc giao tiếp, đưa ra khái niệm “khoảng cách” được xác định như là một mắt xích giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới người khác bằng con đường ngắn nhất. Đầu năm 1970 ở Liên Xô cũ một số bài báo về giao tiếp được giới thiệu trong hội nghị “tâm lý học về giao tiếp” được tổ chức vào tháng 3/1970, 3/1973, 5/1973.
Hội nghị này đề cập đến hàng loạt vấn đề: phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp, cơ chế giao tiếp, ảnh hưởng của những đặc điểm tâm lí cá nhân đối với quá trình giao giao tiếp và lãnh đạo, giao tiếp trong quần chúng, mô hình hoá quá trình giao tiếp, sự chênh lệch và vi phạm loại hình giao tiếp,.và nhiều công trình nghiên cứu lí luận khác. Bên cạnh các công trình công bố trong 3 hội nghị trên còn có hàng loạt các công trình với các mức độ khác nhau được nghiên cứu ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, tâm lí học là ngành khoa học còn non trẻ. Van dé giao tiếp được đi sâu nghiên cứu từ năm 1970 - 1980.
Việc nghiên cứu giao tiếp phát triển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khác nhau, thể hiện các công trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn. Có thể khái quát một số hướng nghiên cứu về giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực như sau: Nghiên cứu lí luận về giao tiếp: Khái niệm. bản chất, vai trò, quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động. Có thể kể ra một số công trình sau: Đỗ Long: “Cacmac va pham tri giao tiếp” (1963); Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp sư phạm” (1987) và “Một số vấn đề về giao tiếp sư phạm”, Nguyễn Văn Lê “Vân đề giao tiếp” (1992).
Trong đó có nhóm các công trình nghiên cứu kĩ năng. giao tiếp sư phạm có thể kể tới là: Hoàng Anh “Kĩ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên", Nguyễn Thạc - Hoàng Anh với cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại học Sư phạm - 1998, Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh “Giao tiếp sư phạm”, Trần Duy Hưng đã bàn tới kĩ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên, Trịnh Trúc Lâm “Ứng xử sư phạm”. Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về giao tiếp như: “Đặc điểm giao. tiếp của sinh viên trường Cao Đăng sư phạm Quảng Trị" - Nguyễn Thị Diễm; tác giả Nguyễn Thanh Bình trong tạp chí Nghiên cứu giáo dục 1992 với bài “Nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm”: “Ảnh hưởng của nhu cầu giao tiếp đến việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp sư phạm sinh viên trường cao ding su phạm Quảng Trị”; “Kha năng giao tiếp của sinh viên sư phạm tỉnh Son La” - Lo Thị Mai Thoan; Hoang Dinh Châu “Thực trạng kĩ năng giao tiếp của học viên Sĩ quan”; Trương Quang Học “Một số đặc điểm giao tiếp của học viên tham gia các lớp đào tào giáo viên khoa học xã hội nhân văn Quân sự cấp Quân đội”: Nguyễn Thị Thanh Tâm “Kĩ năng giao tiếp trong lãnh đạo, quản lí nhằm phát huy trí tuệ tập thể”; Đào Thị Oanh “Nhu cầu giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học (khu vực Hà Nội)”: Phạm Thị Dung “Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng” - Thông báo khoa học 2006.
Nhìn chung đã có nhiều đề tài nghiên cứu về giao tiếp của sinh viên và sinh viên sư phạm, chủ yếu về một trong các đặc điểm của giao tiếp như nhu cầu hay kĩ năng mà chưa có đề tải nào nghiên cứu sâu về kĩ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên. Một số vấn đề về giao tiếp 1. Khái niệm giao tiếp Giao tiếp là vấn đề quan trọng và phức tạp, nó đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những góc khác nhau. Nhìn chung khi định nghĩa về giao tiếp các tác giả xuất phát từ hai hướng tiếp cận sau: 1.
Hướng tiếp cận thứ nhất: xuất phát từ các chuyen ngành tâm lí học ting dung Từ các ngành tâm lý học ứng dụng, các liên ngành tâm lí học du lịch. tâm lí học kinh đoanh, tâm lí học trị liệu, tâm lí học tuyên truyền, tâm lí học y học.Hầu hết các nhà tâm lí học ứng dụng khi nhìn nhận khái niệm giao tiếp đều đề cập tới hai vấn đề sau: ~ Nhấn mạnh đến vấn đề thông tin, thông báo trong giao tiếp. ~ Tính đến hiệu quả mang tính đặc thù trong lĩnh vực riêng biệt đó. Tâm lí học kinh doanh xem giao tiếp là một quá trình, một kích thích dưới dang một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây hậu quả khi đi tới bộ thu.
“Tâm lí học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền dat va tri giác các thái độ, niềm tin và ý định, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lí chung của loài người làm sao cho đôi bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được mục tiêu giao tiếp. Tam lí học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân - bệnh nhân trong bệnh viện nhằm tạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân. Hướng tiếp cận thứ hai: xem xét các xu hướng cơ bản trong tâm lí học giao tiếp. Khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm lí học thế giới dẫn đi theo 3 xu hướng rồ rệt: ~ Hướng thứ nhất: xác định bản chất giao tiếp qua việc xác định nội hàm của khái niệm (thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp).
- Hướng thứ hai: xem xét bản chất giao tiếp qua việc xác định vị trí của giao tiếp trong hệ thống khái niệm phạm trù tâm lí. - Hướng thứ ba: xác định chính xác hoá khái niệm giao tiếp bằng việc phân biệt “giao tiếp” với các thuật ngữ, khái niệm liên quan như “thông tin”, “ứng xử” hoặc “quan hệ xã hị * Hướng thứ nhất: “Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp” + Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp: chỉ nhắn mạnh một khía cạnh nhất định nào đó trong giao. - Nhat mạnh đến khía cạnh thông tin trong giao tiếp giữa người với người, gồm các tác giả với những quan niệm sau: Theo E.Acgain quan niệm: Giao tiếp là sự tác động, sự truyền và tiếp nhận thông báo. sự trao đổi thông tin của con người.Platonop: *Giao tiếp là sự trao đổi thông tỉn giữa con người với nhau, sự trao đổi thông tỉn này gọi là tiếp xúc” Eischer: “sơ đồ giao tiếp nằm trong một quá trình truyền thông tỉn, bao gồm 4 yếu tố khác nhau: Một điểm phát - biến đổi thông tin thành mã, một kênh thông tin, một điểm thu nhận thông tin, một danh mục tín hiệu”.
~ Nhắn mạnh đến khía cạnh cảm xúc của sự giao tiếp như tác giả L.Stecxon (Pháp) coi giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm và cảm xúc giữa con người với nhau. ~ Nhấn mạnh khía cạnh hành động, hành vi của giao tiếp, T.Chuccon (Mỹ) và ba nhà tâm lý học Pháp P.Bivanh: coi giao tiếp là một tổ hợp hành vi, quá trình này tích hợp nhiều loại hành vi gồm: ngôn ngữ, hành vi điệu bộ, hành vi cử chỉ. Xu hướng thu hẹp này đã xác định được chính xác từng mặt trong nội hàm khái niệm giao tiếp, nhưng chưa đủ vì giao tiếp với tư cách là một hiện tượng tâm lí con người phải bao gồm cả ba mặt: Nhận thức (thông tin). xúc cảm và hành động.
Mặt khác xu hướng này chỉ dừng lại ở việc mô tả bề ngoài của quá trình giao tiếp, chưa nêu rõ bản chất bên trong của quá trình này. - Xu hướng mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp đến mức đồng nhất giao tiếp với giao lưu chung cho cả ở người và động vật.Xocolop cho rằng: Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau và giữa những động vật tâm lí với nhau. Nếu thu hẹp hơn thì có thể hiểu “giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với những động vật nuôi trong nhà”. Ngoài ra, một số nhà khoa học khác đã dùng thuật ng giao tiếp thính giác chim”, “giao tiếp ở khi” để mô tả khía cạnh thông báo giữa các động vật.
Như vậy có thể thấy, xu hướng mở rộng khái niệm giao tiếp đã làm mắt đi bản chất xã hội của giao tiếp.; không thấy được sự khác biệt về bản chất giữa giao tiếp người và thông báo ở động vật. Về phương tiện giao tiếp ở người mang tính chất truyền đạt một khối lượng thông tin lớn phức tạp gồm cả tính chất cụ thể và tính chất trừu tượng, còn động vật chỉ mang tính chất cụ thể (thông báo về tình huống cụ thể bên ngoài hoặc trạng thái của con vật).