CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC THỰC HIỆN 1. Một số Khái niệm 1. Đại lượng và đo đại lượng 1.
Đại lượng Đại lượng là một khái niệm dùng để chỉ về thuộc tính của thế giới sự vật, hiện tượng. ( tr 25,13) Vi du: Màu sắc, khối lượng, độ đài, thời gian. Đo Đại lượng Do Đại lượng là một quá trình đánh giá định lượng Đại lượng cần đo để có kết quả bằng số đo với đơn vị đo.(tr 180, 14) Để thực hiện phép đo người ta có thể sử dụng nhiều cách khác nhau, ta có thể phân biệt như sau: - Đo trực tiếp là cách đo mà kết quả nhận được trực tiếp từ một phép đo duy nhất. Vi dụ: Đo độ đài một đoạn thẳng, đo độ dài một đường gấp khúc.
- Đo gián tiếp là cách đo mà kết quả suy ra từ phối hợp kết quả của nhiều phép đo trực tiếp. Ví đụ: Để đo diện tích hình chữ nhật ta có thể sử dụng công thức S = a x b. Ta cần đo chiều đài a và chiều rộng b bằng cách đo trực tiếp sau đó tính ra diện tích hình chữ nhật. Năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang có sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Theo cách nghĩ của N. Hà/Tạp chí khoa học ĐHQGEHN: Nghiên cứu Giáo dục, tập 30, số 2 (2014) 56- 64 57 thường: Nẵng lực là sự kết hợp của tư duy, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được ở một cá nhân hoặc tổ chức đễ thực hiện thành công nhiệm vụ. (ĐeSeCo, 2002) mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của người đó. Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa được một cách chính xác.
Năng lực hay khả năng, kỹ năng trong tiếng việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capabilify”,.trong tiếng Anh. Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng như công việc và học tập hằng ngày là nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức tạp về tư duy, cảm xúc, thái độ, kỹ năng vì thế có thể nói năng lực của một cá nhân là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập,công việc hoặc cuộc sống, hay nói một cách khác năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thực, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và sự ham mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa đạng của cuộc sống”. Quebec — Ministere de I'Education, 2004. Trong một báo cáo của trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ các mối liên quan giữa các khái niệm năng lực (competence), kỹ năng (Skills) và kiến thức (knowledge).
Báo cáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về năng lực trong đó nêu rõ năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó. Cùng với khái niệm năng lực là khái niệm “năng lực cốt lõi” (key competences) bao gồm một số năng lực được coi là nền tảng. Dựa trên những năng lực cốt lõi này, người học có thể thực hiện được yêu cầu của học tập cũng như các yêu cầu khác trong các bối cảnh và tình huống khác nhau khi đạt được những năng lực thứ cấp. Theo định nghĩa của các nước có nền kinh tế phát triển, năng lực cốt lối bao gồm: những năng lực nền tảng như năng lực học hiễểu, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp.
Do vậy, năng lực có tính phức hợp hơn kỹ năng và mức độ thành thạo của một kỹ năng cũng quyết định một phần tới mức độ cao thấp của năng lực. Đi sâu vào ngành hoặc chuyên ngành cụ thể khái niệm năng lực lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù của từng ngành/chuyên ngành. Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng có nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn điện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực. Khái niệm này cũng khá tương đồng với các khái niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra.
Chẳng hạn, các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là “tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Người ta cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nên tảng để phát triển năng lực chuyên môn. Năng lực chuyên môn là những năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ (Hoàng Thị Tuyết). Tuy nhiên năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ chặt chế với nhau.
Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh doanh, nhóm nghiên cứu của trường Đại học Ngoại thương đã nêu rõ “năng lực là tổ hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lý và phẩm chất phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quả như đề ra”. Tương tác định nghĩa về năng lực trong tâm lý hoặc kinh doanh thì trong giáo dục các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa có nội hàm tương đương. Chẳng hạn, Trần Khánh Đức trong “nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp có hiệu quả và vận dụng tiềm năng của con người (ri thức,kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin.) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”. Ở một nghiên cứu khác về phương pháp đạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn ( trường ĐHSP Kỹ thuật TP.
Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lý phức tạp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Như vậy cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Tựa chung lại, những thành tố cơ bản tạo nên năng lực là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Song, không thể hiểu đơn giản rằng: Năng lực là sự gộp lại của các thành tố đó.
Điểm chung của các cách phát biểu về khái niệm năng lực chính là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống. Dạy học theo tiếp cận năng lực Nói đến việc dạy học theo tiếp cận năng lực thì có rất nhiều ý kiến phát biểu, cụ thể như: - Theo PŒGS TS Ngọc Thống - PCT Hội đồng KH, Viện KHGIVN cho biết các nhà giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu về xu hướng chính của giáo dục thế giới và đang chọn lọc cách tiếp cận các xu hướng này cho nên giáo dục Việt Nam đó là cách tiếp cận theo hướng phát triển năng lực: Tiếp cận năng lực thực chất là tiếp cận đầu ra, có điều đầu ra là các năng lực chung, tiếp cận về mặt kiến thức hay về mặt năng lực. Xu hướng mới nhất hiện nay là tiếp cận theo hướng năng lực, họ hình dung ra HS tốt nghiệp phổ thông phải có được những năng lực như thế nào để nó ứng phó được với cuộc sống bên ngoài bên cạnh năng lực chung mà ai cũng phải có, cần có những năng lực chuyên biệt, âm nhạc, vẽ, văn, năng lực toán học. tư duy phê phán, năng lực chung ai cũng cần có trong cuộc sống.
TSKH Trần Kiều cho rằng: Phát triển năng lực người học không, có nghĩa là mâu thuẫn với chuyện chúng ta trang bị cho học trò kiến thức kỹ năng mà căn bản là ở chỗ muốn cho con người có được cái năng lực hành động thì lưu ý đến chuyện làm chứ không phải chỉ có tri thức, năng lực ở đây là năng lực làm, hành động chứ không chỉ có tri thức nên học được trỉ thức phát triển được kỹ năng để làm gì một cách hiệu quả. - Theo TS Lương Ngọc Bình (Học viện Quản lý giáo dục), dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện là cách đạy học nhắm trúng vào năng lực của người học để thiết kế chương trình “Muốn day hoc theo phương pháp tiếp cận năng lực đạt hiệu quả mong muốn thì khâu xác định sở thích và năng lực người học là quan trọng hàng đầu, nhưng chỉ dựa vào sở thích của người học thì đúng, nhưng chưa đủ. Để quyết định thành công, yếu tố có tính quyết định ở đây là năng lực người học. Từ trước đến nay, chúng ta chủ yếu đạy học theo phương pháp tiếp cận nội dung.
Chương trình và nội dung giáo dục được xác định là chuẩn mực, không được phép xê địch. Khi học họ không biết học để làm gì, khi 10 làm không hiểu tại sao phải làm,. TS Bình khẳng định chính do sự nghiêm khắc thái quá vô hình trung là nguyên nhân sâu xa của sự thụ động không đám sáng tạo, không đám vượt qua những yếu tố chuẩn mực truyền thống, mặc dù những yếu tố đó đã lạc hậu, bắt cập. Khi nói đến tiếp cận năng lực thì có rất nhiễu ý kiến phát biểu, tuy nhiên nhìn chung các ý kiến đó đều có mộtý chung là: Tiếp cận năng lực là cách tiếp cận nêu rõ kết quả - những khả năng hoặc kỹ năng mà học sinh muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở mỗi môn học cụ thể.
Nói cách khác, cách tiếp cận năng lực này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS biết và làm được những gì?. Một số vẫn dé day hoc theo tiếp cận năng lực thực hiện 1.