Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA VIỆC TỎ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Đạo đức Đạo đức, theo nghĩa hẹp là tập hợp những nguyên tắc, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ con người. Ngày nay, chính quan hệ con người cũng được mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người từ vi mô đến vĩ mô, với công việc, với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách của mỗi cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sóng tỉnh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phân giải quyết hợp lí, có hiệu quả những mâu thuẫn trong. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng động, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân con người với tập thể, với cộng đồng xã hội. Từ bản chất, con người luôn hướng tới chân, thiện, mỹ vươn tới sự hoàn thiện chính mình. Vì thế, đạo đức là yếu tố cơ bản của nhân cách, là nền tảng của bản chất con người. Đẻ vươn tới sự hoàn thiện, trước hết con người phải vươn lên về mặt đạo đức.
Con người bao giờ cũng là con người xã hội - lịch sử, từ ban chất xã hội — lịch sử này, con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Con người phải chịu sự chế ước bởi những nguyên tắc, những chuẩn mực do xã hội đề ra để đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển. Những nhận thức trên đã làm rõ khái niệm đạo đức với hai thuộc tính cơ bản sau: Một là, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người, là cái chân, cái thiện. cái mỹ trong phẩm chất của con người, là lương tâm, là danh dự của con người, của xã hội, của thời đại.
Hai là, đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực được xã hội quy định trong quan hệ của con người với con người, con người với tập thể, cộng đồng, xã hội. Giáo dục Giáo dục, nhìn dưới góc độ hoạt động, nó là quá trình thế hệ trước truyền đạt lại kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống lao động cần thiết để tiếp tục phát triển xã hội. Có người cho rằng, GD với tư cách là một hoạt động (quả trình) thể hiện ở 3 cấp độý nghĩa: - Giáo dục theo nghĩa rộng nhất, đó là quá trình hình thành con người dưới ảnh hưởng của tất cả các tác động bên ngoài (môi trường tự nhiên và xã hội, các hoạt động chuyên biệt có mục đích của nhà GD. - Giáo dục theo nghĩa rộng (trong Giáo dục học) là sự hình thành con người dưới ảnh hưởng của những tác động có mục đích của nhà GD trong quá trình dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp) diễn ra trong hệ thống các thiết chế giáo dục.
- Giáo dục theo nghĩa hẹp (trong Giáo dục học) là công tác GD chuyên biệt do nhà GD tiến hành nhằm hình thành hệ thống các phẩm chất nhất định: đạo đức, thê gi i quan, niềm tin, quan diém. Với cách hiểu như trên thì GD theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả hai loại quá trình: quá trình tự phát và quá trình tự giác, trong đó quá trình tự giác giữ vị trí quyết định trong đào tạo con người, hình thành những sức mạnh bản chất của con người, tác động đến sự phát triển của con người. Phải làm cho quá trình tự phát và quá trình tự giác có tác động cùng, chiều. Nhiệm vụ này không chỉ của nhà GD mà còn của toàn xã hội.
Ngoài ra còn có quan niệm vẻ GD theo nghĩa hẹp hơn nữa. GD theo nghĩa hẹp là một quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách của thế hệ trẻ phát triển đúng về đạo đức; giúp cho mọi người ứng xử đúng trong các mối quan hệ của cá nhân đối với xã hội, đối với người khác, đối với bản thân; là làm cho mỗi người nắm được nhận thức và hành động trong các mối quan hệ đạo đức xã hội chủ nghĩa, tức là các mối quan hệ xã hội trong đó đã giải quyết được các mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, theo hướng lợi ích cá nhân hòa hợp và phục tùng lợi ích xã hội. Học sinh tiểu học Cấp tiểu học có 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5 dành cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi (đối với một số trẻ em không có điều kiện bình thường để đi học đúng tuổi có thể muộn hơn 1 - 2 năm, nghĩa là học sinh tiểu học có thể có trẻ em ở tuổi 13 - 14).
Là lứa tuổi hồn nhiên đang hình thành và phát triển nhân cách đến trường học tập là một bước ngoặt thực sự quan trọng có ý nghĩa lớn lao trong cuộc đời của các em. Các em thực sự trở thành một học sinh. Nhà trường tiểu học thực sự mở ra trước mắt các em một thế giới mới lạ với những quan hệ mới và phức tạp hơn. Các em chuyển từ vui chơi là hoạt động chủ đạo ở tuổi mầm non sang học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo có tính quyết định những biến đôi tâm lý cơ bản ở tuổi học trò.
Hoạt động Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa: - Con người với thế giới tự nhiên - Con người với xã hội - Con người với người khác - Con người với chính mình Như vậy. khái niệm hoạt động được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ đơn thuần bao gồm các yếu tố “động” mà còn chứa các yếu tố “tĩnh”, không chỉ xét đến tác động vào thế giới tự nhiên và xã hội bên ngoài mà còn nhắc đến thế giới bên trong. đến “cái tôi” đặc thù của mỗi người. Chính theo nghĩa này, mà Guy Brousseau, cha đẻ của lí thuyết tình huống quan niệm rằng nhân loại tiếp thu và chuyển giao trí thức trong hoạt động và bằng hoạt động.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HDGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp, diễn ra trong hay ngoài nhà trường, được tô chức nhằm giáo dục học sinh theo mục tiêu giáo dục đã đề ra, là sự tiếp nói hoạt động giáo dục, là con đường. gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức 1.L Nhiệm vụ và nội dung của giáo dục đạo đức 1. Giáo dục ý thức đạo đức Giáo dục ý thức đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh những tri thức cơ bản, cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức, trên cơ sở đó, bước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho các em.
Theo chuẩn mực hành vi đạo dức, cần giúp học sinh nắm vững những trí thức cần thiết như: ~ Yêu cầu của chuẩn mực. - Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi: Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức và tác hại của việc làm trái chuẩn mực quy định. - Cách thực hiện chuẩn mực đó: Những công việc cần làm và những hành động cần tránh. Những trì thức đạo đức này là cơ sở quan trọng của việc hình thành niềm tin, ý thức đạo đức tự giác.
Giáo đực thái độ, tình cảm đạo đức Đời sống tỉnh thần của con người nói chung, trẻ em nói riêng, sẽ trở nên khô cứng, trống rỗng nếu không biết yêu, biết ghét, không có cảm xúc mà thờ ơ với những người xung quanh, với công việc, với thiên nhiên. Ngược lại, ở những người có tình cảm đạo đức chân chính, họ rất đễ hòa đồng với những người xung quanh, đời sống tỉnh thần trở nên phong phú, cuộc sống vui tươi hơn, công việc có hiệu quả hơn.Vì vậy, giáo dục tình cảm đạo đức là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhưng rất khó khăn, tỉnh tế bởi vì phải tác động đến thế giới nội tâm, thế giới của những cảm xúc của trẻ em. Giáo dục thái độ. tình cảm đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh những thái độ đúng đắn, liên quan các chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó, hình thành tình cảm đạo đức bền vững cho các em.
Ở tiểu học, những thái độ, tình cảm cẩn giáo dục cho học sinh có thể chia thành một số nhóm như: - Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng và yêu mến bạn bè; tôn trọng những người xung quanh khác - hàng xóm, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, - Kính yêu Bác Hồ, tôn kính Quốc kì, Quốc ca; biết ơn thương binh, liệt sĩ, bộ đội: yêu trường, mến lớp; yêu quê hương, làng xóm. - Chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp; yêu lao động,. - Yêu thiên nhiên, môi trường sống xung quanh. - Lòng tự trọng, khiêm tốn, trung thực,.
- Ủng hộ, đồng tình, tán thành với những hành động, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức; ngược lại, lên án. phê phán, chê cười những hành động sai trái, xấu, có hại cho người khác, cộng dòng, xã hội. Theo chuẩn mực hành vi đạo đức, cần giáo dục cho học sinh những thái độ. tình cảm như: ~ Thái độ thực hiện hành vi đạo đức (tích cực, chăm chỉ, tự giác.
- Thái độ đối với hành động tích cực (đồng tình, tán thành.); thái độ đối với hành động tiêu cực (phê phán, lên án. - Tinh cam đối với đối tượng (kính trọng, yêu quý, biết ơn. Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức Việc giáo dục một chuẩn mực hành vi đạo đức nào đó cho trẻ em phải dẫn đến kết quả cuối cùng là các em thực hiện hành vi tương ứng trong cuộc sống, qua các mối quan hệ hằng ngày. Hành vi đó nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành thói quen của trẻ, được thể hiện như một nét tính cách bền vững.