Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC HANH VI VAN HOA CHO HỌC SINH KHOI LOP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÀN QUỐC TOÁN THÀNH PHÓ TAM KỲ 1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài - Xu hướng giáo dục hành vi văn hóa trên tiết học chuyên biệt.
Xu hướng này thực hiên ở Liên Xô. Trong tiết học thường lưu ý đến giai đoạn đầu gây hứng thú cho HS. - Xu hướng coi trọng khâu luyện tập hành vi trong trò chơi, tình huống thực, các hoạt động. - Xu hướng xây dựng các tình hudéng kích thích xúc cảm tích cực ở trẻ.
- Xu hướng coi trọng hình thành kĩ năng hành vi, chuẩn bị cho việc thực hiện hành vi ở mức độ cao hơn. Đề có được hành vi đó trong đó có rất nhiều các thao tác. Chia nhỏ thành các kĩ năng nhỏ, luyện tập để chuẩn bị cho việc hình thành kĩ năng ở mức độ cao hơn. nó tạo nền móng cho các em hình thành hành vi ở mức độ cao hơn.
- Xu hướng hình thành hành vi có ý thức bằng cách tạo điểm tựa về nhận thức cho HS. Trong quá trình tạo điểm tựa phải thông qua khâu trung gian, dùng môi trường để tạo hành vi cho học sinh. - Xu hướng tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức giữa các cá nhân và coi đó là điều kiện thực hiện hành vi xã hội. Ở Việt Nam Hiện nay ở nước ta có rất nhiều xu hướng giáo dục HVVH cho trẻ tiểu học.
“Trong chương trình cải cách coi trọng tiết học và thực hiện phương châm giáo dục “mọi nơi, mọi lúc”. “Trong chương trình đổi mới tập trung vào hình thức tổ chức hoạt động theo hoạt động góc và hoạt động chung. Nói tóm lại dù trong nước hay nước ngoài các nhà nghiên cứu luôn tìm kiếm các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức hoạt động thích hợp để giáo dục HVVH cho trẻ tiểu học. Hầu hết các nhà giáo dục không đồng tình với ý tưởng đưa 5 giáo dục HVVH cho trên “tiết học chuyên biệt”.
mà việc giáo due HVVH cần được tiền hành trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ tiểu học. Một số khái niệm 1.1 Văn hóa 'Văn hóa là hiện tượng nay sinh, phat triển cùng với đời sống xã hội, văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Nhưng mãi đến thế kỷ XVII, nhất là nữa cuối thế kỷ XIX trở đi, các nhà khoa học trên thế giới tập-trung vào nghiên cứu sâu vào lĩnh vực này. Bản thân vấn đề văn hóa rất đa dạng và phức tạp.
nó là một khái niệm có ngoại điên rất lớn (có nhiều nghĩa), được dùng dé chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tính chát và hình thức biểu hiện. Phương Đông, trong tiếng Hán cổ, “văn” là đẹp do sắc tạo ra, diễn nghĩa ra, là hình thức đẹp đẽ biểu hiện trong cách cư xử, lịch sự, trong cách ăn nói, biểu thị thành một hệ thống qui tắc ứng xử đẹp, “hóa” có nghĩa là trở thành. '*Văn hóa” có nghĩa là vẻ đẹp của con người, cái đẹp trong trí thức, trí tuệ của con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyên. Chính trong đường lối cai trị của Khổng Tử lấy từ quan điểm cơ bản này để xây dựng: văn trị giáo hóa, cảm hóa bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt bạo lực và cưỡng bức.
Ở phương Tây, văn hóa — culture (trong tiếng Anh. tiếng Pháp) hay cultur (tiếng Đức). đều xuất xứ từ chữ Latinh Cultus có nghĩa là khai hoang trồng trọt, nói ngắn gọn là sự vun trồng, giáo dục phát triển mọi khả năng của con ngudi.[60],[70] Như vậy, văn hóa trong từ gốc của cả phương Đông lẫn phương Tây đều xuất phát từ nghĩa căn bản là: sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người có hành vi trở nên tốt đẹp hơn. 'Văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp là những hoạt động và giá trị tỉnh thần của con người.
Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học,.), văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh. được coi là phân hệ chính của hệ thống văn hóa. Nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được coi như một ngành — ngành văn hóa - nghệ thuật để phân biệt với ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Các kiểu này thường kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa.
Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh than do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.60] Có một số quan niệm phát triển theo hướng này như: Theo UNESCO “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tỉnh thần, vật chất, tri thức, linh cảm.Khắc họa nên bản sắc của một cộng. đồng gia đình, xóm làng, quốc gia và xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị. những truyền thống, tín ngưỡng.” Theo quan điểm của Hồ Chủ Tịch “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc, ở các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh nó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó là loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng cho nhu cầu đời sống, và đòi hỏi sự sinh ton.
” Nói đến văn hóa là nói đến con người — nói tới những đặc điểm riêng chỉ có ở loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người hoàn thiện con người, hướng con người khát vọng vươn tới chân - thiện — mỹ, đó là ba giá trị trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân loại. Văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tỉnh thần. Giá trị vật chất là những giá trị sáng tạo được thể hiện trong các của cải vật chất do con người tạo ra, những sản phẩm của tự nhiên ban tặng. Đó là sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động,tư liệu sản xuất, các cơ sở hạ tầng, nguồn năng lượng.
Văn hóa vật chất được thể hiện qua đời sống vật chất, nó ảnh hưởng to lớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trong nên kinh tế đó. Giá trị tỉnh thần, là toàn bộ những hoạt động tỉnh thần của con người và xã hội bao gồm: kiến thức, phong tục tập quán, thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ, các giá trị và thái độ, các hoạt động văn học nghệ thuật, tôn giáo. giáo dục, phương thức giao tiếp, cách thức tô chức xã hội. Nghị quyết TW IV (khoá 8) khẳng định: VH là nên tảng tỉnh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế — xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Muốn VH phát triển, thì phải quan tâm đến bảo vệ, xây dựng, phát triển môi trường văn hoá. Môi trường VH là sự vận động của các mối giao tiếp văn hoá, thể hiện trong ứng xử của từng người và gia phong, lối sống. nếp sống, trật tự kỷ cương xã hội, nghĩa vụ và quyền lợi của từng người và cộng đồng. Như vậy trong các cấp độ tìm hiểu của thuật ngữ văn hóa, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này ở nghĩa rộng chỉ cả giá trị vật chất và giá trị tỉnh thần đó là nền tảng cho: lối sống, nếp sống, thói quen văn hóa, truyền thống và các giá trị văn hóa, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt đẹp, cái thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và môi trường xã hội.
Khái niệm hành vi Có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi như quan điểm sinh vật học (E.Toocđai), quan điểm chủ nghĩa hành vi (đại diện là Oát-xơn. Tôn-men, Hô-lơ và Skinơ) với công thức HV: § —› R (trong đó S là kích thước và R là phản ứng). Cả hai quan điểm đều cho rằng hành vi là phản ứng hay cách thức cơ thể thích nghỉ với môi trường, hành vi lệ thuộc vào môi trường. Hai quan điểm này đều cho rằng môi trường là quan trọng, con người phản ứng với kích thích sinh học thụ động trước môi trường.
Riêng chủ nghĩa hành vi nói nhiều đến môi trường xã hội. Cả hai quan điểm trên không phải hoàn toàn sai nhưng chưa đầy đủ. Hiện nay chúng ta đang thực hiện chương trình đổi mới môi trường giáo dục, một trong những yêu cầu đó là chăm lo đổi mới môi trường giáo dục (môi trường giáo dục vừa là điều kiện, vừa là động lực thúc đây việc thực hiện chương trình). Chúng ta đã kế thừa những quan điểm trên, không phủ nhận nó mà là cơ sở để có quan điểm mới đúng hơn và đầy đủ hơn.
Khác với các quan điểm trên, TUH Maexit coi hành vi là cuộc sống, lao động, thực tiễn, tức là hoạt động (hoạt động thực tiễn của con người). Hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách. Đây là khái niệm rõ nhất về quan niệm hành vi. Công thức hành vi: S— X — R (X là tâm lí, năng lực, ý thức của chủ thể, có chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi).
Hành vi là biểu hiện bên ngoài, được điều chỉnh bởi cái trung gian đó là tâm lí. Vậy cái chúng ta quan tâm đó là cái trung gian. Khi ý thức chưa hình thành thì giáo dục rất quan trọng, vì khi phản ứng con người chưa được điều chỉnh, chưa ¢6 ý thức cần làm cho môi trường có phản ứng tích cực đối với trẻ vì vai trò của môi trường tích cực rất quan trọng. Để có hành vi phải có động cơ bên trong (tính tích cực của chủ thể) và môi trường tác động bên ngoài.
Hành vi văn hóa Từ những phân tích trên chúng ta có thể đưa ra được khái niệm HVVH.