Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn dé giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, Tam Kỳ, Quảng Nam. e Chương 2: Thực trạng giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh lớp 3 trường Tiéu học Nguyễn Văn Trối, Tam Kỳ, Quảng Nam. e Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trãi, Tam Kỳ, Quảng Nam NOI DUNG NGHIEN CUU CHUONG 1. CO SG Li LUAN CUA VAN DE GIAO DUC HANH VI VAN HÓA CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYEN VAN TROL TAM KY, QUANG NAM 1.
Một số khái niệm 1. Hành vỉ Trong Chuyên đề cao học “Giáo dục hành vi văn hoa cho tré mam non” cla T§ Hoàng Thị Phương (2009, trang 1 — 3) đã nghiên cứu về thuật ngữ hành vi. "Theo đó, thuật ngữ hành vi được sử dụng rất nhiều, bắt đầu wr thé ki XX va duoc xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. Sau đây là một vài quan điểm chủ yếu: - Theo quan điểm của các nhà sinh học mà đại diện là E.
Toocđainơ (1874 — 1949), hành vi được xem xét “là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự thích nghỉ của cơ thỂ với môi trường”. Hành vi của con người bó hẹp trong các hoạt động thích nghỉ với môi trường để đảm bào sự tồn tại của cá thể trong môi trường đó. - Theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi, bao gồm chủ nghĩa hành vi cổ điển (G. Oatxơn (1878 - 1958), chủ nghĩa hành vi moi (Ténmen (1886 - 1958) và Hôlơ (1884 - 1952), chủ nghĩa hành vi bảo thủ (B.
Các nhà hành vi này cho rằng, hành vi được thực hiện không có sự tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách. Mọi hành vì đều được biểu thị bằng công thức nổi tiếng Š -> Ñ (kích thích -> phần ving). Quan điểm của hai trường phái này (chủ nghĩa hành vi và các nhà sinh học) đều cho rằng hành vi là tất cả những gì phản ứng hay những cách thức để con người thích ứng với môi trường. Nếu các nhà sinh vật học coi con người chỉ phản ứng với các kích thích có tính sinh học, thì chủ nghĩa hành vi quan niệm cơn người không chỉ phản ứng với kích thích có tính sinh học mà còn phản ứng với kích thích khác (môi trường xã hội).
Luận điểm cơ bản nhất của thuyết hành vi là coi con người chỉ có khả năng phản ứng thụ động và vì vậy phụ thuộc hoàn toàn vào kích thích tác động lên cơn người, không cần biết giữa kích thích và phản ứng có gì, không công nhận có tâm 6 lí, ý thức trong việc con người thích nghỉ với môi trường. Cũng như vậy, thuyết Ghestan (đại diện là Vechâyme (1880 - 1943), V. Coopca (1886 - 1941)) da xét đến bản chất của hành vi mà không tính tới tính tích cực của chủ thể, chỉ coi môi trường là cái quyết định của hành vi. - Quan điềm Macxit về hành vỉ: Tâm lí học Macxit quan niệm hành vi cơn người là “cuộc sống”, “lao động”, “thực tiến” tức là hoạt động.
Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được thực điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách. Vugôtxki, hành vi con người được hiểu là quá trình nắm lấy các chức năng tâm lí xã hội của bản thân, tức là hành vi được hiểu là hoạt động nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia vào hoạt động bên ngoài, tác động lên các đối tượng bên ngoài hoặc những người khác. Galperin da cho thay, muốn có được hoạt động tâm lí bên trong thì trước hết phải tổ chức được hình thức bên ngoài của nó và trẻ em sẽ hoạt động trước hết trên những đối tượng bên ngoài ấy rồi “chuyển vào trong” thành tâm lí, ý thức. Điều đó cho thấy, hoạt động bên ngoài và bên trong là cơ sở quan trọng cho các quá trình chuyển hóa: “từ ngoài vào trong”, “từ trong ra ngoài”.
Vugôtxki chỉ rõ công thức hành vi người và hành vi động vật hoàn toàn khác nhau: + Hành vi động vật có công thức: Kinh nghiệm di truyền và kinh nghiệm di truyền kết hợp tự tạo. Do vậy, nguyên tắc hành vi có tính trực tiếp. + Hành vi người có công thức bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm kép và được hiểu ngầm là hoạt động của con người. Nguyên tắc của hành vi có tính gián tiếp: § ——> _R.
Đó là nét đặc trưng cho hoạt động của con người. x Nhờ có nguyên tắc này, con người có thể điều khiển được hoạt động của bản thân, thoát khỏi tác động trục tiếp của dòng kích thích và hành vi người không còn đơn thuần là hành vi phản ứng mà trở thành hành vi tích cực. Từ những quan điểm trên ta có thể hiểu rằng: Hành vi là toàn bộ những phản ứng của con người biểu hiện ra bên ngoài trong một hoàn cảnh cụ thể nhất 7 định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lý, ý thức người đó. Hành vi cá nhân có tính mục đích và có nghĩa.
Chính vì vậy không được coi nhẹ khả năng thích nghỉ với môi trường và giáo dục ý thức trong việc thích nghỉ với môi trường. Ngoài ra, hành vi nảy sinh khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu. Như nhà tâm lí học nổi tiếng người Gruzia tên Ð.N Uđơnate nói rõ: Nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, chủ thể hướng tới đối tượng nào đó trong thực tại, thoạt tiên đối tượng trực tiếp tác động lên chủ thể — chuẩn bị để chủ thể sẵn sàng hành động — một tâm thé xuất hiện — tâm thé này được chủ thể biến thành tính tích cực thúc đầy hành vi. Văn hóa Nói đến văn hóa là nói đến con người — nói tới những đặc điểm riêng chỉ có ở loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người, hoàn thiện cơn người, hướng con người khát vọng vươn tới chân — thiện — mỹ, đó là ba giá trị trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân loại.
Văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tỉnh thần. Khái niệm văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy cách tiếp cận của từng người hay của từng ngành khoa học. Nam 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì iẽ sinh tôn cũng nh mục dich của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát mình ra ngôn ngũ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở. và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phái mình đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đổ sản sinh ra nhằm đáp tứng những nhụ cầu đời sống và đồi hỏi của sự sinh tôn". Từ điển Triết học (NXB Chính trị, Matsxcova, 1972) định nghĩa: ““ Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tình thần và được nhân loại sáng tạo ra trong lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của lịch sử xã hội loài người. Tại hội nghị quốc tế nhằm phát động “Thập kÿ quốc tế phát triển văn hóa” do UNESCO chủ trì năm 1982 tại Mêhicô với hơn 1000 đại biểu và các nhà văn hóa đại diện cho hơn 100 quốc gia đã đưa ra đến hơn 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Đề thống nhất hành động trong tuyên bố chung của hội nghị, người ta đã thống nhất một quan niệm về văn hóa như sau: “7?ong ý ng”ữa rộng nhát, tốn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tỉnh thân và vật chất; trí tué va cam xúc, quyết định tính cách của mội xã hội hạy một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn chương, lồi ing, quyền cơ bản của con người, hệ thông giá trị, tập tục và tín ngưỡng” Với cách hiểu như vậy, năm 2002 ông M. Federicô - Tổng giám đốc UNESCO đã nói rõ hơn: “Vốn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quét và sống động mọi mội của cuộc sống của mỗi cá nhân hay cộng đồng, đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại; qua bao thế lỳ, nó đã cầu thành nên một hệ thong giá trị truyền thông chủ yếu là vê đạo đúc và thẩm mỹ mà dụa trên đó tùng dân lộc hự khẳng định lôi sống riêng cha mink"), Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
'Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình đệ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tỉnh thần mà do con người tạo ra. Hành vi văn hóa +* Khái niệm Có thể coi cuộc sống con người là một tổng thể những hành vi van hóa.
Một người mẹ thương con hết mực, tình mẫu tử đã thôi thúc bà làm bất cứ việc gì miễn sao cho con được sung sướng, được nên người; một em bé vì thương người tàn tật, nghèo khó mà sẵn sàng bớt tiền ăn quà sáng để góp phần vào quỹ từ thiện hay một cô công nhân vệ sinh do hiểu được tầm quan trọng của việc làm sạch môi trường nên đã sẵn sàng quét dọn đường phố ngay cả trong đêm ba mươi Tết. Tất cả những cách ứng xử đó đều được coi là hành vi văn hóa. 9 Hành vi văn hóa (HVVH) là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí ý thức bên trong của chủ thể có ý thức và chịu sự quy định bên trong của chuẩn mực xã hội, được xây dựng từ hệ thống những giá trị xã hội do một nền văn hóa lựa chọn đề định hướng.