mở đầu quan trọng cho quá trình đào tạo nhân tài trong các lĩnh vực của hoạt động TM. Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ học tập và rèn luyện dé phát triển năng lực và những, phẩm chat cần thiết cho. lĩnh vực hoạt động mà trẻ có năng, khiếu cần được quan tâm khi trẻ còn là HSTH. Các thầy cô giáo cần giúp đỡ, định hướng và khuyến khích HS phát huy năng khiếu TM của mình.
Nội dung giáo dục thẩm mĩ cho học sinh Tiểu học GDTM cho HSTH rất da dạng và phong phú được thẻ hiện qua các nội dung sau: - GD lòng biết ơn, sự kính trọng đối với ông bà, cha mẹ và thầy cô giáo. - GD tình cảm yêu thương, gắn bó giữa anh chị em trong gia đình. - GD tình yêu đối với làng xóm, quê hương, đất nước. - GD cách ứng xử đối với mọi người xung quanh.
- GD tỉnh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ những người gặp khó khăn trong cuộc sống. - GD tinh yêu đối với lao động, biết quý trọng sản phẩm lao động và công sức của người lao. động|15, tr ? Như vậy, GDTM có liên quan trực tiếp đến GD văn hóa, TM là một bộ phận của văn hóa, trong văn hóa có TM, văn hóa lấy TM làm trung tâm. GD văn hóa và GDTM gắn liền với nhau như hình với bóng không thể tách rời.
Mục đích của GDTM cho HS là giúp HS nâng cao trình độ nhận thức, cảm thụ, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp vật chất và tỉnh thần, hình thành thói quen, nếp sống, hành vi văn minh trong giao tiếp xã hội. Bản chất của giáo dục thẩm mĩ GDTM về bản chất là bồi dưỡng lòng khao khát đưa cái đẹp vào cuộc sống tạo nên sự hài hoà giữa xã hội - con người - tự nhiên, nâng cao. năng lực thụ cảm và sáng tạo ở con người, làm cho con người được phát triển một cách hài hoà trong mọi hoạt động cũng như nghỉ ngơi, trong quan hệ gia đình cũng như xã hội. Cũng như mọi hoạt động GD khác, GDTM vừa là một thể thống nhất giữa các hình thức hoạt động khác nhau của con người, chịu sự tác động, của toàn bộ quan hệ xã hội lại vừa có mục tiêu, phương tiện và nội dung riêng biệt.
Chúng ta không thể sống, lao động, học tập và chiến đấu tốt mà không được trang bị các kiến thức TM phong phú, đúng đắn của loài người. Mác thường nói: “Con người nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp”, thì bản thân con người, một mặt, trong lao động của mình hình thành những thước đo cho cái đẹp; mặt khác, những tri thức về cái dẹp lại luôn luôn cổ vũ cho con người sáng tạo. Vì vậy, nguyên lý GDTM của chủ -10- nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm dến việc trau dồi trì thức TM cho con người được GD và đặt ra những. vấn đề phương pháp luận để mỗi người tự trau dồi tri thức cho mình.
Rõ ràng là muốn vươn tới đỉnh cao của cái đẹp trong lao động, trong học tập, trong sáng tạo, trong đánh giá, trong thưởng, thức. thì bước đi dầu tiên của mỗi người là phải được trau dồi những tri thức TM cần thiết. Để đạt được mục đích khởi đầu của GDTM: “xây dựng những tình cảm TM tốt đẹp” thì công tác truyền thụ kiến thức TM phải đạt đến sự nhuần nhuyễn và phối hợp hài hoà giữa các tri thức về cái đẹp truyền thống và hiện đại, dân tộc và thế giới, kinh nghiệm và lí luận. Ngoài ra, để có thể GD con người phát triển một cách toàn diện thì cùng với việc bồi dưỡng và ồn định khả năng thưởng thức cái đẹp, GDTM phải tạo khả năng sản xuất ra cái đẹp, không những chỉ phản ánh đúng cái đẹp, GDTM phải tạo khả năng sản xuất ra cái đẹp, không những chỉ phản ánh cái đẹp của thế giới mà còn cần sáng tạo thêm cho thế giới những cái đẹp mới.
Những nguyên tắc giáo dục thẳm mĩ cho học sinh tiểu học: GDTM cho HSTH cho HSTH cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Căn cứ vào lứa tuổi để có những tác động khác nhau, có mục tiêu và trï thức khác nhau. ~- Nguyên tắc TM có hệ thống GD luôn dòi hỏi tính liên tục kiểm xoáy ốc, ở mỗi vòng xoáy riêng đều có hệ thống đón nhận và chuẩn bị mở rộng khả năng sáng tạo tốt hơn, cao hơn. - Tính liên tục trong quá trình TM gắn liền với tính lôgíc, đảm bảo cho sự phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa hoàn thiện dến chỗ hoàn thiện hơn. ~ Đảm bảo tính toàn diện nhằm phát huy mọi khả năng sáng tạo của con người nhưng trung tâm vẫn là xây dựng những năng lực TM khởi dầu -11- từ việc hoàn thành các giác quan.
Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với sự phát triển của xã hội. Đường lối quan điểm phát triển kinh tế của Đảng ta đã đem lại những biến đổi hết sức cơ bản trong đời sống xã hội về mọi mặt như: Chính trị, Văn hoá và cả trong vấn dé quan hệ của con người với con người. Những giá trị tư tưởng đạo đức văn hoá nghệ thuật cũng đang được dần dần điều chỉnh cho phù hợp với sự biến đổi to lớn của đất nước trong mọi hoạt động của xã hội người ta hướng vào tính nhân văn cao cả, nhằm đào tạo những con người nhạy bén trong cảm xúc, có ý thức trách nhiệm với cuộc sống, các mói quan hệ giữa mình với tự nhiên, với xã hội, với lịch sử văn hoá dân tộc và nhân loại. Làm cho người được đào tạo ra luôn có nhu cầu nhận thức, có khát vọng làm phong phú thêm cuộc sống, làm đẹp thế giới trên cơ sở tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội sâu sắc về thế giới xung quanh.
Theo hướng đó GDTM cho HS trong nhà trường phải bằng các hoạt động cụ thể kế thừa những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức vẫn còn có ý nghĩa thời đại. Đồng thời phải biết tiếp nhận những giá trị văn hoá mới, giá trị đạo đức mới mà xã hội hiện nay đang tạo ra. Phát triển lên một trình độ cao hơn làm cho nó có sức chồng lại những biểu hiện lai căng, đi ngược với yêu cầu GD đạo đức TM. Lí luận giáo dục thẫm mĩ trong dạy học môn Tiếng Việt 1.
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 Chương trình Giáo dục phổ thông, cấp TH (ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ - BGDDT ngày 5 - 5 - 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định rõ nội dung và kế hoạch dạy học môn TV lớp 5 (8 tiếUtuần x 35 tuần = 280 tiết). Căn cứ nội dung chương trình được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, sách giáo khoa (SGK) TV lớp 5 (tập một, tập hai) cụ thể hoá các kiến thức (tiếng Việt, tập làm văn, văn học), kĩ năng (dọc, nghe, nói, viết) dạy cho HS theo các bài học thuộc 5 phân môn: Tập đọc (2 tiết, Chính tả (1 tiếp), Luyện từ và câu (2 tiế), Kế chuyện (I tiết), Tập làm văn (2 tiếu. Cụ thể như sau : 1.1 Tập đọc Thông qua hệ thống văn bản đa dạng phong phú thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học đã tuyển chọn và đưa vào SGK TV lớp 5 (tập một, tập hai), trong đó có 40 bài văn xuôi, 2 vở kịch (trích), 18 bài thơ, phân môn Tập đọc ở lớp 5 tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn, đồng thời nâng cao thêm một bước về kĩ năng đọc diễn cảm (thẻ hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh, cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài). Qua phần hướng dẫn sư phạm cuối mỗi bài tập đọc (gồm các nội dung.
giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài), phân môn Tập đọc còn giúp HS nâng cao kĩ năng đọc - hiểu văn bản: Nhận biết được đề tài, cấu trúc của bài; biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý; phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương. Cùng với các phân môn Kể chuyện, Tập làm văn, phân môn Tập đọc còn xây dựng cho HS thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dùng sách công cụ (từ điền, số tay từ ngữ, ngữ pháp) và ghỉ chép những thông tin cần thiết khi đọc. Nội dung các bài tập đọc trong SGK TV lớp 5 được mở rộng và phong, phú hơn so với các bài tập đọc ở lớp dưới. Các bài đọc mở rộng vốn hiểu biết về thiên nhiên, về cuộc sống của con người, bồi dưỡng tình cảm và nhân cách của HS.
lừ đó hình thành thái độ ứng xử có văn hoá và phù hợp với chuân mực đạo đức của dân tộc. Do vậy, các văn bản dọc có tác dụng GD tư tưởng, tình cảm vả trau đồi nhân cách cho HS. Hệ thống chủ điểm của các bài tập đọc vừa mang tính khái quát vừa có tính hình tượng, hướng vào những phẩm chất của con người, ngoài ra còn đề cập đến vấn đề trẻ em và quyền trẻ em, bảo vệ môi trường, GD dân số, giới tính, ca ngợi tình đoàn kết giữa các dân tộc : Việt Nam - Tổ quốc em, Cánh chim hoà bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người, Người công dân, Vì cuộc sống thanh bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân tương lai. Qua các bài tập đọc, HS còn được cung cấp thêm về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật,.), từ đó nâng cao trình độ văn hoá nói chung và trình độ tiếng Việt nói riêng.
Chính tả Cũng như ở lớp 4, ở lớp 5, mỗi tuần chỉ có một tiết chính tả, tổng cộng. cả năm học có 31 tiết chính tả. Các bài chính tả trong SGK TV lớp 5 có nhiệm vụ dạy cho HS kĩ năng viết đúng chính tả, kết hợp cung cấp kiến thức về cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam và nước ngoài, thông qua 2 loại bài: a) Chính tả đoạn, bài - Nội dung bài viết chính tả có thể được trích nguyên văn từ bài tập đọc trước đó hoặc nội dung tóm tắt của bài tập đọc, bổ sung thêm 13 đoạn văn, bài văn, bài thơ, mầu chuyện, mẫu tin, điều luật,. có nội dung cùng chủ điểm.