CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Sự ra đời của khoa học quản lý – xu hướng tất yếu của xã hội Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn, đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Đây cũng là một hoạt động có ý nghĩa quyết định, mang tính sống còn của các chủ thể tham dự vào hoạt động xã hội và nhân loại. Quản lý đúng, dẫn đến thành công, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững; còn quản lý sai sẽ dẫn đến thất bại, suy thoái, lệ thuộc và đổ vỡ.
Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert OWen (1771 – 1858 ), là một trong những người tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng của nguồn nhân lực. Quan điểm quản lý của ông mặc dù còn đơn giản nhưng đã bước đầu chuẩn bị cho sự ra đời một bộ môn khoa học quản lý độc lập. Andrew Ure (1778-1857) là người đã sớm nhìn thấy vai trò của quản lý và việc đào tạo kiến thức cho nhà quản lý. Ông cho rằng quản lý là một nghề.
Charler Babbage (1792-1871) là người đầu tiên đề xuất phương pháp tiếp cận có khoa học trong quản lý và ông cũng là người có đóng góp tích cực trong việc đưa quản lý thành một bộ môn khoa học độc lập. Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm 1911. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học với các nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học. Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm về hành vi (quan điểm hệ con người).
Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người và khía cạnh nhân bản trong một tổ chức. Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý, 6 thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp tốt với những người dưới quyền. Trong các giai đoạn từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, các nhà quản lý phương Tây, tiêu biểu là P.Drucker đại diện khởi đầu cho trường phái hệ thống, xây dựng nhiều lý thuyết quản lý hiện đại và để tiếp tục sau đó, người ta đưa vào sử dụng các thành quả của toán kinh tế (quy hoạch toán, xác xuất thống kê, điều tra xã hội học…) và tin học trong quản lý, đưa ra các thành quả vượt bậc trong quản lý; đưa ra các dự báo chính xác hơn, các phương án tối ưu hơn và được tính toán chặt chẽ và nhanh chóng hơn. Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục Cho đến những năm cuối của thập kỷ 80, trong các sách báo khoa học về tâm lý học sư phạm, về giáo dục học, "quản lý giáo dục" vẫn còn được xem như một bộ phận của "giáo dục học".
Khi Viện sĩ Kôn- đa- cốp hoàn thành công trình nghiên cứu đồ sộ của mình về quản lý giáo dục ở Liên xô (cũ) vào năm 1982, ông cũng rất khiêm tốn đặt cho nó cái tên "Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trường". Các giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt khi biên soạn sách giáo khoa "Giáo dục học" năm 1987, cũng có cách tiếp cận tương tự đối với quản lý giáo dục. Trong chuyên luận "Sáng tạo một nhà trường xuất sắc" xuất bản năm 1989, các học giả H. Millikan vẫn khẳng định rằng quản lý giáo dục như là một sự "ánh xạ" các ý tưởng quản lý kinh tế, quản lý xã hội vào hoạt động giáo dục với sự hoà trộn các tri thức tâm lý học, xã hội học và giáo dục học.
Kể từ cuối thế kỷ XIX, thực tiễn quản lý giáo dục đã được "pháp điển" hoá đến mức độ cao bằng sự ra đời của các bộ luật giáo dục từ Tây sang Đông, với Pháp và Nhật bản là những điển hình. Trong hơn một thế kỷ qua, giáo dục trên toàn cầu đã tiến dài gấp nhiều lần toàn bộ lịch sử loài người cộng lại. Giáo dục cơ bản đã phổ cập ở khắp nơi trên địa cầu, từ những quốc gia giầu có nhất cho đến những nơi còn phải sống dưới ngưỡng nghèo khó. 7 Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục, trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization Behavior in Education) của Robert J.
Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory, Resarch and Practice) của Wayne. Míkel (1996) Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thái Lan (tháng 3/1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “chương trình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi người. Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục” 1. Khái quát những nghiên cứu quản lý giáo dục ở Việt Nam 1.
Quản lý giáo dục ở Việt Nam Từ ngày đầu lập quốc đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm đến thực tiễn quản lý giáo dục với mức độ cao, và ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn. Từ "Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường" vào tháng 9 năm 1945 của Bác Hồ - như một "chỉ thị nhiệm vụ năm học mới" ở cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước, đến nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ 2 (khoá VIII), tháng 12 năm 1996, về giáo dục và đào tạo; Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành trên thực tiễn hoạt động "quản lý giáo dục" liên tục trong hơn nửa thế kỷ. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta coi “giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu”, Có nhiều văn bản chỉ đạo quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo như: - Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010; 8 - Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo; - Quyết định số 09/2005/QĐ – TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 – 2010; 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục Vào những năm 70 - 80 thế kỉ XX, ở nước ta đã có một số nhà giáo dục như.
Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc có những bài viết và những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này. Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu đã có các nhà khoa học như: PGS. Đặng Quốc Bảo, PGS. Nguyễn Quốc Chí, GS.TS Nguyễn Đức Chính, PGS.
Trần Khánh Đức, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS. Đặng Bá Lãm… Trong những năm gần đây ở nước ta, việc nghiên cứu về phát triển và quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã được quan tâm đặc biệt; trong đó có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về “Công tác quản lý chất lượng giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về “Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt Nam” (2005). Khái quát trên về những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, hình thức trường đại học tư thục được ra đời, nhưng những nghiên cứu về biện pháp quản lý và phát triển cũng như các vấn đề liên quan đến ĐNGV của hệ thống giáo dục ngoài công lập vẫn còn rất ít và chưa hệ thống.
Việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường đại học Thành Đô” mong muốn có những đóng góp nhất định trong công tác quản lý giáo dục ngoài công lập và là sự tổng kết thực tiễn giúp Nhà trường nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý ĐNGV. Một số khái niệm cơ bản 1.Mác: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo để tiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”[26] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[5] Để hoạt động quản lý đạt được hiệu quả cao thì quá trình quản lý không thể thiếu các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý. Mỗi phương pháp có sự tác động riêng tới từng mặt của người lao động.
Do đó, không có biện pháp nào là chìa khoá vàng để quản lý tốt tất cả các hoạt động của tổ chức. Chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hóa một phương pháp, mà phải biết kết hợp để phát huy hết những ưu điểm của từng phương pháp và khắc phục những mặt hạn chế. Các khái niệm quản lý trên có những dấu hiệu chủ yếu sau: - Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh, giống như một cơ thể sống. Nó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan.
- Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ.