Chương 1: Tổng quan lý thuyết về vật lí thống kê. - Chương 2: Phân bố Gibbs. - Chương 3: Áp dụng phân bố Gibbs vào hệ khí thực. NOI DUNG Chuong 1.
TONG QUAN LY THUYET VE VAT Li THONG KE 1. VAT Li THONG KE Vật lí thống kê là ngành vật lí nghiên cứu các hệ nhiều hạt dùng phương pháp thống kê hay vật lí thống kê hiện đại là lý thuyết thống kê về các hệ nhiều hạt. Vat lí thống kê nghiên cứu những hệ bao gồm một số rất lớn các hạt như nguyên tử, phân tử, ion và các hạt khác mà người ta gọi là hệ vi mô hay hệ nhiều hạt nhưng bằng các phương pháp khác nhau. Hiện nay các phương pháp của vật lí thống kê được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của vật lí hiện đại, kể từ vật lí học các vật ngưng tụ cho đến lý thuyết các hạt cơ bản.
Chỉ có vật lí thống kê là đã cho phép ta đoán nhận được các thông số nhiệt động như nhiệt độ, entrôpi, năng lượng tự do,. Vật lí thống kê gồm hai phần: Vật lí thống kê cỗ điển và vật lí thống kê lượng tử. Vật lí thống kê lượng tử tổng quát và chặt chẽ hơn vật lí thống kê cỗ điển, bởi vì từ vật lí thống kê lượng tử ta có thể thu được tất cả các luận đề cơ bản của vật lí thống kê cổ điển. Cơ sở của công cụ toán học của vật lí thống kê là lý thuyết xác suất, 1.
CÁC CƠ SỞ CỦA LÝ THUYẾT XÁC SUÁT 1. Các biến cố ngẫu nhiên Lý thuyết xác suất nghiên cứu những biến có gọi là biến cố ngẫu nhiên. Biến cố ngẫu nhiên là sự biểu hiện của đấu hiệu này hay dấu hiệu khác, bao gồm tính chất này hay tính chất khác của quá trình mà cũng là cả hiện tượng ngẫu nhiên nào đó. Thí dụ: hiện tượng ngẫu nhiên về sự va chạm của các phân tử là một biến cố ngẫu nhiên.
Việc một phân tử nào đó có vận tốc xác định hoặc là có phương chuyển động xác định, số phân tử trong một đơn vị thể tích và năng lượng của chúng - tất cả những cái đó cũng được coi là những biến có ngẫu nhiên. Các đại lượng ngẫu nhiên Những đại lượng mà trị số của chúng phụ thuộc vào trường hợp ngẫu nhiên được gọi là các đại lượng ngẫu nhiên. Thí dụ, một biến có ngẫu nhiên có thể thể hiện ở chỗ: một phân tử nhất định có vận tốc đã cho. Thực vậy, vận tốc của phân tử trong chất khí biến dổi tuỳ thuộc vào những va chạm với phân tử này hoặc phân từ khác của chất khí hoặc với thành bình.
Đối với mỗi phân tử, những va chạm như vậy là ngẫu nhiên. Bởi vì trong các va chạm ngẫu nhiên đó vận tốc cũng sẽ biến đổi một cách ngẫu nhiên cho nên vận tốc đó là đại lượng ngẫu nhiên. Các trị số khả hữu của một đại lượng ngẫu nhiên có thể tạo thành phổ gián đoạn hay liên tục nếu đại lượng ngẫu nhiên ch có những trị số xác định hoặc có thể có những trị số bắt kì trong một khoảng nào đó. Thí dụ, mômen động lượng của electron trong nguyên tử chỉ có thể có những trị số gián đoạn, còn vận tốc của phân tử khí hoặc mật độ vật chất có thể có một tập hợp vô SỐ ci © giá trị khác nhau từ không cho đến vô cực.
Một số đại lượng vật lí ngẫu nhiên có thể có phổ các giá trị liên tục cũng như gián đoạn.Thí dụ, năng lượng của electron trong, nguyên tử có thể có các trị số gián đoạn và cũng có thể có các trị số bắt kì, nghĩa là nó biến đổi liên tục. Các lí thuyết thống kê,về căn bản nghiên cứu không phải là các biến cố ngẫu nhiên mà lại nghiên cứu các đại lượng ngẫu nhiên tương ứng với chúng. Nếu x là đại lượng ngẫu nhiên nào đó thì một hàm bat ki g(x) cũng sẽ là đại lượng ngẫu nhiên.Thí dụ nếu vận tốc của phân tử là đại lượng ngẫu nhiên thì động năng của nó cũng là đại lượng ngẫu nhiên. Để đặc trưng cho một đại lượng ngẫu nhiên nào đó thì cần phải biết các giá trị khả hữu của nó và biết được xác suất của mỗi giá trị đó.
Xác suất của biến cố Khi số lần thử tổng cộng tăng lên thì tần số lặp lại sẽ càng tiến tới một giới hạn không đổi được gọi là xác suất của biến có đã cho. Tuy nhiên, chỉ khi số lần thử tăng lên vô hạn thì ta mới quan sát thấy sự tới gần giới hạn của tần số lặp lại. trường hợp tổng quát, nếu một 5iến cố nào đó xảy ra n lần trong tổng cộng N lần thử thì về phương diện toán học, xác suất được xác định như là giới hạn của tỉ số của số biến cố thuận lợi nchia cho biến cố tổng cộng N với điều kiện là số lần thử trong. nhóm tiến đến vô hạn.
Nói cách khác, xác suất W; của biến có đó sẽ bằng: Trong vật lí học, các đại lượng ngẫu nhiên thường biến thiên theo thời gian. Khi đó xác suất của một trạng thái nào đó của hệ có thẻ xác định theo công thức: Em t W=lim— (12) 12 'Trong đó t: thời gian lưu lại của hệ trong trạng thái đã cho T: thời gian quan sát tổng cộng. Hàm phân bố xác suất Xác suất tìm thấy đại lượng x trong khoảng Ax được kí hiệu là AW(x). Khi chuyển tới khoảng vô cùng nhỏ các giá trị dx thì xác suất sẽ là đW(x), đồng thời các kí hiệu A và d chỉ rõ rằng các đại lượng ngẫu nhiên có thể có trị số trong khoảng Ax hoặc dx, nghĩa là từ x đến x + Ax hoặc đến x + dx.
Xác suất dW(x) sao cho đại lượng ngẫu nhiên có thể lấy các trị số từ x đến x + dx sẽ phụ thuộc vào chính số x đó, nghĩa là nó là một hàm f(x) và tỉ lệ với chiều rộng của khoảng dx. Vì vậy ta có thể viết xác suất đW(x) như sau: dW(x) = f@&)dx (13) Tập hợp tắt cả các trị số của xác suất của một đại lượng, ngẫu nhiên đã cho sẽ tạo nên sự phân bố của đại lượng ngẫu nhiên đó, sự phân bố này được xác định bởi hàm fáx).Vì vậy hàm f(x) được gọi là hàm phân bố xác suất. Các tính chất của xác suất Theo định nghĩa (1. suất, ta suy ra rằng: 0 <W < I( vì 0 <n¡<N).
Do đó, xác suất là một đại lượng không thứ nguyên, nó không thể là số âm cũng không thể lớn hơn đơn vị mà được biểu thị bằng một phân số, bằng không, hoặc bằng đơn vị. Nếu xác suất W= 1 thì điều đó có nghĩa là bất cứ phép thử nào cũng đều là phép thử thuận lợi đối với biến có đã cho. Biến cố có xác suất bằng đơn vị được gọi là biến cố chắc chắn. Nếu xác suất W = 0 thì biển cố đó được gọi là biến cố không thể có.
Định lí cộng xác suất a. Hai biến cố xung khắc Hai biến cố xung khắc A và B tức là hai biến cố không thẻ xảy ra đồng thời. Xét một biến cố phức tạp trong đó hoặc biến cố A hoặc biến cố B sẽ xảy ra, khi đó xác suất của biến cố phức tạp được viết như sau: n,+n W (A hole B)= lim 42.4) Noe Trong đó N: số tổng cộng các phép thử nạ „ nụ: số lần xảy ra biến cố A, B tương ứng Theo định nghĩa (1. L) ta có: G-Pen y Ls n n W(4)=lim-4và W(8)=lim- Do đó xác suất biến cố phức tạp được biểu thị như là tổng các xác suất của các biến cố riêng biệt: + W (B) W (A hoặc B) = W (A) (1.6) Trong trường hợp hàm phân bố liên tục, xác suất đại lượng ngẫu nhiên sẽ nằm trong khoảng từ xị đến xị + dxị hoặc trong khoảng từ x; đến x; + dx; thì ta sẽ có: - dW Œị hoặcx;)= dW@i) + dW(x2) = f@xi)dxị + fx:)dx; Ta có thể mở rộng định lí đó cho nhiều biến cố xung khắc: W (A hoặc B, hoặc C.7) 'Theo định lí cộng xác suất, xác suất của biến cố sao cho một đại lượng ngẫu nhiên liên tục có một trong các trị số nằm trong khoảng từ xị đến xạ: x 'W(tử xị đến x;) = LAW (x)= Ïaw@œ) (1.
Hệ đủ các biến cố Hệ đủ các biến cố là tất cả các biến cố có thể xảy ra trong phép thử đã cho.Tổng các xác suất đối với hệ đủ các biến cổ là bằng 1, bởi vì việc xuất hiện của một biển cổ bắt kì nào trong hệ đủ đều là một biến cố chắc chắn. D, tạo thành một hệ đủ thì:. + W(Ð) =1 (19) Xác suất xây ra một trong các biến cố không bao giờ có thể lớn hơn tổng các xác suất xảy ra tất cả các biến có. Đối với các đại lượng ngẫu nhiên liên tục thì hệ đủ các biến cố có thể có bất kì trị số nào trong toàn bộ khoảng biến thiên của đại lượng ngẫu nhiên từ a đến b hoặc từ - ø đến + ø.Tất nhiên là xác suất tìm một đại lượng ngẫu nhiên trong toàn bộ khoảng các giá trị khả dĩ của nó là một biến cố chắc chắn.10) được gọi là điều kiện chuẩn hoá hàm phân bố e.
Hệ đủ các biến cố dùng để xác định trị số của mỗi xác suất Nếu hai biến cố xung khắc A và B tạo thành hệ dủ các biến cố thì biến cố A là đối lập (xung khắc) với biến có B. Xác suất của bắt kì biển có nào có thể xác định theo xác suất của biến cố đối lập theo công thức: W(A)=1~= W(B) (11) tức là xác suất của bất kì biến cố nào đều bằng đơn vị trừ đi xác suất của biển cố xung đối với nó. Định lí nhân xác suất Một biến cố phức tạp nào đó chỉ xảy ra với điều kiện là có biến cố khác xây ra.Trong trường hợp đó, xác suất của biến cố phức tạp đó được gọi là xác suất có điều kiện. Xác suất có điều kiện xảy ra biến cố A với điều kiện là có biến cố B xảy ra được xác định theo công thức: 'W(A với điều kiện có B) = W(A) W(B) (1.12) Xác suất của một biến cố phức tạp sao cho đồng thời xảy ra hai biến có độc lập A và B được xác định bằng tích của các xác suất W(A) và W(B): W(A va B) = W(A).13) Công thức này có thể mở rộng cho trường hợp có nhiều biến có độc lập: W(A va B, va C,.