Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY: 2. Chi phí kiệt quệ tài chính: Lý thuyết đầu tiên cho rằng nhờ giảm tính bất ổn của dòng tiền, các công ty có thể giảm chi kiệt quệ tài chính (Mayers và Smith, 1982; Myers, 1984; Stulz, 1984; Smith và Stulz, 1985; Shapiro và Titman, 1998). Theo định đề I của MM, ông giả định rằng thị trường vốn là hoàn hảo: Không có chi phí giao dịch khi mua bán chứng khoán.
Có đủ số người mua và người bán trên thị trường. Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả nhà đầu tư và không phải mất tiền. Tất cả nhà đầu tư có thể vay hoặc cho vay cùng lãi suất. Tất cả nhà đầu tư đều hợp lý và các kỳ vọng đồng nhất về lợi nhuận của một Doanh nghiệp.
Thì việc lựa chọn tài trợ bằng nợ hay vốn cổ phần không ảnh hưởng đến giá trị Doanh nghiệp. Việc lựa chọn nên được tài trợ bằng nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn, nợ có đảm bảo hay nợ không có đảm bảo, nợ chuyển đổi được hay không chuyển đổi được thì không ảnh hưởng đến giá trị Doanh nghiệp. Việc lựa chọn tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại hay phát hành cổ phần mới cũng không ảnh hưởng đến giá trị Doanh nghiệp. Giá trị Doanh nghiệp được quyết định bởi tài sản chứ không phải được quyết định bởi cấu trúc vốn.
Chi phí kiệt quệ tài chính được giả định là không tốn chi phí,do đó,việc xây dựng chi phí kiệt quệ tài chính không ảnh hưởng đến giá trị Doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Dựa vào mô hình của Smith và Stulz, 1985, tác giả cho thấy các công ty có đòn bẩy cao thì có động lực để tham gia hoạt động quản trị rủi ro hơn các công ty có đòn bẩy thấp. Tuy nhiên, động lực quản trị rủi ro biến mất đối với các công ty có đòn bẩy cực cao. Bên cạnh đó, Smith và Stulz (1985) lập luận rằng việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính không những làm tăng giá trị công ty, giá trị cổ đông mà còn tăng khả năng vay mượn của công ty.
Quản trị rủi ro có thể làm tăng giá trị thông qua tác động làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính. Quản trị rủi ro làm giảm độ biến động của dòng tiền kỳ vọng và do đó làm giảm đi độ bất ổn giá trị công ty, bằng cách làm giảm sự biến động này, quản trị rủi ro giúp làm giảm xác suất xảy ra mà công ty phải đối mặt với khả năng kiệt quệ tài chính. Chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm thứ nhất là các chi phí trực tiếp liên quan đến việc mất khả năng chi trả , phá sản, tái cấu trúc hoặc thanh lý tài sản. Thứ hai là các chi phí gián tiếp do thay đổi động cơ của các chủ nợ gây ra.
Ngay cả khi trong trường hợp công ty không xin phá sản, tình trạng kiệt quệ tài chính cũng có thể áp đặt chi phí kiệt quệ tài chính gián tiếp lên công ty một cách đáng kể. Khi nhìn vào các chi phí mà công ty ký kết với các khách hàng, nếu khách hàng giảm sút niềm tin vào công ty do lo ngại xác xuất xảy ra kiệt quệ tài chính, họ sẽ từ bỏ công ty tìm đến các đối thủ cạnh tranh. Đối với các công ty cung cấp các hợp đồng về dịch vụ hoặc bảo trì thường kí kết hợp đồng dài hạn với khác hàng. Nếu khách hàng giảm sút niềm tin đối với công ty, thì thường giảm bớt giá trị các hợp đồng dịch vụ, họ sẽ gần như từ bỏ công ty và tìm đến các đối thủ cạnh tranh.
Nếu công ty có thể thuyết phục các khác hàng tiềm năng rằng chi phí kiệt quệ tài chính đã được giảm bớt, công ty có thể làm tăng giá trị hợp đồng dịch vụ và bảo trì kí kết với khách hàng. Quá trình như vậy sẽ làm tăng giá trị được phản ánh vào dòng tiền của công ty, và mức giá mà khách hàng có thể sẵn sàng trả cho sản phẩm. Đối với các công ty sản xuất sản phẩm dựa vào lòng tin khách hàng liên quan đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 các lĩnh vực cung cấp dịch vụ, bảo trì máy móc thiết bị, tài chính ngân hàng thì các lợi ích tiềm tàng này của quản trị rủi ro dường như lớn hơn. Nếu các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, họ sẽ có xu hướng gian lận về chất lượng hơn các công ty có tình hình tài chính lành mạnh.
Vì vậy, lợi ích từ việc phòng ngừa rủi ro sẽ lớn hơn đối với các công ty có xác suất đối mặt với khả năng kiệt quệ tài chính cao hơn. Khi công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính do vay nợ quá cao , thì lúc bấy giờ các trò chơi sẽ xuất hiện. Chẳng hạn, trò chơi của các cổ đông công ty từ bỏ những dự án có NPV dương, còn gọi là trò chơi chuyển dịch rủi ro (sang cho trái chủ). Những dự án tuy có NPV dương nhưng không tạo đủ dòng tiền để trả nợ, bằng cách chọn những dự án có độ rủi ro cao hơn,nhưng xác suất thành công rất thấp.
Một trường hợp mà quản trị rủi ro có thể tránh được vấn đề đâu tư lệch lạc này diễn ra trên thị trường dài hạn. Nếu một công ty phát hành nợ dài hạn, cổ đông của công ty thường có động cơ bỏ qua các dự án có NPV dương hoặc chuyển đổi dự án có rủi ro thấp sang dự án có rủi ro cao. Nhận biết được động cơ này các trái chủ sẽ yêu cầu phần bù rủi ro lớn hơn trên thị trường nợ dài hạn. Tuy nhiên, động thái này sẽ giảm bớt đối với các công ty có xếp hạng tín nhiệm trái phiếu cao hơn.
Các công ty có xếp hạng tín nhiệm thấp hơn có thể tránh được phần bù rủi ro này bằng cách phát hành nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nợ ngắn hạn có thể khiến công ty nhạy cảm hơn với rủi ro lãi suất. Nhưng nếu phát hành nợ ngắn hạn và sau đó hoán đổi nợ thành nợ có lãi suất cố định, công ty có lãi suất cố định và có thể kiểm soát được vấn đề mâu thuẫn giữa cổ đông-trái chủ và đồng thời tránh được rủi ro lãi suất. Và còn có rất nhiều trò chơi khác giữa cổ đông và trái chủ như trò chơi thu tiền và bỏ chạy, trò chơi thả mồi bắt bóng, trò chơi kéo dài thời gian,…Tuy nhiên, các trái chủ sẽ tính hết đến các khả năng xảy ra trò chơi này khi đầu tư vào công ty.
Họ sẽ tính đến phần bù rủi ro cao hơn khi mua trái phiếu. Để thuyết phục các trái chủ trả giá cao hơn cho các trái phiếu của công ty, các cổ đông phải đảm bảo các trò chơi này sẽ không diễn ra, hoặc nếu có diễn ra sẽ thực hiện rất khó khăn, bằng việc đính kèm các điều khoản hạn chế với việc phát hành trái phiếu, phát hành trái phiếu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 có tài sản đảm bảo, làm cho các khoản nợ có tính chuyển đổi, phát hành cổ phiếu ưu đãi thay vì nợ. Mâu thuẫn giữa trái chủ và cổ đông cũng có thể được giảm bớt nhờ vào hoạt động quản trị rủi ro. Bởi vì, quản trị rủi ro có khả năng làm giảm xác suất mất khả năng chi trả, nên các trái chủ sẵn sàng chi trả nhiều hơn để mua trái phiếu.
Chính vì vậy, quản trị rủi ro làm tăng khả năng sử dụng nợ của công ty hoặc giảm lãi vay mà công ty phải gánh chịu. Các yếu tố làm phát sinh chi phí kiệt quệ tài chính, thứ nhất, công ty có thể sẽ mất khách hàng, các nhà cung cấp và nhân viên chủ chốt. Theo nghiên cứu của Opler và Titman ( 1994) bằng những bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các công ty kiệt quệ tài chính chiếm thị phần đáng kể trong thời kì ngành công nghiệp đang suy thoái. Thứ hai, các công ty kiệt quệ tài chính rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả vi phạm các thỏa thuận các khoản vay nợ mà không bị vỡ nợ.
Thứ ba, các công ty kiệt quệ tài chính có khả năng từ bỏ các dự án có NPV dương do chi phí tốn kém. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phòng ngừa rủi ro và Kiệt quệ tài chính: (Nguồn: Tài chính doanh nghiệp hiện đại,GS. Trần Ngọc Thơ, trang 854) Nghiên cứu thực nghiệm của Oplee và Titman (1994) cho thấy nợ làm suy yếu vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm củaAmiyatosh Purnanandam (2007) cho thấy động lực phòng ngừa rủi ro tăng lên cùng với kì hạn của dự án. Đối với các công ty xảy ra kiệt quệ tài chính nhưng vẫn còn khả năng thanh toán thì động cơ quản trị rủi ro tăng lên. Nếu không có kiệt quệ tài chính thì động cơ quản trị rủi ro biến mất. Mặc khác, nếu chi phí này quá cao, sự khác biệt giữa chi phí kiệt quệ tài chính và mất khả năng thanh toán giảm xuống.
Vì vậy, mô hình của tác giả dự đoán một mối quan hệ hình chữ U giữa chi phí kiệt quệ tài chính và hoạt động quản trị rủi ro. Như vậy, quản trị rủi ro Doanh nghiệp làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính , dẫn tới tỷ số nợ tối ưu cao và lợi ích từ tấm chắn thuế làm tăng giá trị Doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là quản trị rủi ro làm giảm xác suất xảy ra chi phí kiệt quệ tài chính. Chi phí đại diện: Theo Jensen và Meckling ( 1976), lý thuyết chi phí đại diện đề cập đến mối quan hệ một bên là người chủ sở hữu vốn và một bên giữa người quản lý- người thực hiện các chiến lược của công ty.
Lý thuyết chi phí đại diện xảy ra khi có sự mâu thuẫn về lợi ích của họ. Thứ nhất, mâu thuẫn xảy ra giữa các cổ đông và người đại diện.