chương 1 đã giới thiệu được sự lựa chọn chủ yếu của đề tài là phương ph p nghiên cứu định lượng với phân tích hồi quy dữ liệu bảng theo OLS, FEM và REM được kết hợp với thống kê mô tả và phân tích tương quan, nghiên cứu tình huống trong phương ph p định tính. Trang 9 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức, c c bằng chứng thực nghiệm đề cập ảnh hưởng của tỷ lệ chi trả cổ tức năm trước, cấu trúc vốn, dòng tiền hoạt động kinh doanh, lợi nhuận, quy mô công ty và tỷ lệ tăng trưởng doanh thu; từ đó, chương này sẽ thảo luận để x c định khoảng trống nghiên cứu và lựa chọn mô hình nghiên cứu của đề tài. Khái niệm cổ tức Cổ tức là phần lợi nhuận ròng hay lợi nhuận sau thuế được công ty chi trả đến các cổ đông. Cổ tức cũng được xem như sự chia sẻ lợi nhuận mà công ty tạo ra tới những nhà đầu tư và đây cũng là cách duy nhất để các nhà đầu tư được chia sẻ lợi nhuận của công ty khi sở hữu cổ phiếu (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2016).
Cơ sở lý thuyết về quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức dƣới góc độ quản trị tài chính Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị tới các hoạt động tài chính của công ty (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2016) và là một khâu trọng yếu trong quản trị công ty, có ý nghĩa quyết định hiệu quả trong kinh doanh (James C.Van Horne và John M. Nếu một công ty có lợi thế cạnh tranh tốt thể hiện qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ, có chiến lược kinh doanh tốt và không ngừng gia tăng doanh thu, nhưng lại không có cơ chế quản trị tài chính tốt thì cũng không thể đạt được mục tiêu cuối cùng trong kinh doanh là gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016). Quản trị tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản trị của công ty. Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, quản trị tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Phân chia cổ tức là một trong những quyết định quản trị tài chính quan trọng, quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức ấn định phân phối lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi Trang 10 trả cổ tức cho cổ đông. Lợi nhuận giữ lại sẽ được tái đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh của công ty, cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi cổ tức cung cấp cho nhà đầu tư nguồn thu nhập hiện tại (Đinh Bảo Ngọc, 2014). Bản chất của quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức Vũ Duy Hào và cộng sự (2016) định nghĩa cổ tức là một phần lợi nhuận ròng hay lợi nhuận sau thuế được công ty chi trả đến các cổ đông. Cổ tức là các khoản thanh toán bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu cho những cổ đông, khoản tiền đó được xem như là sự phân phối lợi nhuận ròng của công ty cho các cổ đông và cũng là một phần thưởng cho việc đầu tư vào cổ phiếu (Woolridge, 1982).
Pandy (1979) cho rằng cổ tức như là một phần thu nhập thuần của một công ty mà ban giám đốc đề xuất để chi trả cho các cổ đông tương ứng với tỷ lệ phần trăm cổ phiếu mà họ nắm giữ trong công ty. Cổ tức ấn định việc phân chia lợi nhuận sau thuế của công ty, bao nhiêu phần trăm sẽ được giữ lại để tái đầu tư, bao nhiêu phầm trăm được sử dụng để chi trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Một trong những cách tốt nhất để truyền đạt thông tin tốt đẹp về tình hình tài chính của công ty tới các cổ đông hoặc nhà đầu tư chính là truyền tải thông tin về chi trả cổ tức. Sự chủ động về chi trả cổ tức mang tính lộ trình thể hiện sự ổn định trong hoạt động, kèm theo đó là sự tăng trưởng của cổ tức tạo nên một viễn cảnh đẹp về triển vọng phát triển của công ty trên thị trường (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2016).
Ý nghĩa của quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức Thứ nhất, quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức thể hiện tiềm năng phát triển của công ty: Sự sẵn sàng và khả năng chi trả cổ tức của một công ty cùng với khả năng làm gia tăng cổ tức cung cấp những thông tin tốt đẹp về triển vọng của công ty. Công ty chi trả cổ tức khi đạt hiệu quả kinh doanh và có lợi nhuận, những công ty không chi trả cổ tức không hẵn là không có lợi nhuận nhưng vì tập trung vốn cho các dự án tái đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty. Trang 11 Thứ hai, quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức tăng trách nhiệm của ban quản trị: Cổ tức làm cho việc ra các quyết định đầu tư của ban quản trị có tính kỷ luật hơn. Quyết định giữ lại lợi nhuận có thể dẫn đến việc bồi thường quá mức, ban quản trị sử dụng tài sản không hữu ích và có lợi nhất.
Thực tế, các công ty quyết định chi trả cổ tức thường sử dụng vốn hiệu quả hơn các công ty không chi trả cổ tức, cổ tức còn là lời hứa của công ty với nhà đầu tư và cổ đông nên phá vỡ chúng sẽ gây rắc rối cho ban quản trị công ty và gây ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu. Thứ ba, cổ tức được sử dụng như một công cụ định giá: Chẳng hạn, so sánh các công ty cùng ngành, nếu một công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp thì giá cổ phiếu cao bởi vì thị trường đã tính đến triển vọng mạnh mẽ, không lo lắng về việc chi trả cổ tức của công ty đồng thời cho thấy được công ty đang gặp khó khăn và không đủ khả năng đưa ra tỷ lệ chi trả cổ tức hợp lý và ngược lại. Tuy nhiên tỷ lệ chi trả cổ tức ít quan trọng đối với các công ty tăng trưởng bởi vì nhà quản trị ra những quyết định liên quan đến tái đầu tư, mở rộng kinh doanh, đem lại cho cổ đông lợi nhuận dưới hình thức lãi vốn. Chỉ tiêu đo lường tỷ lệ chi trả cổ tức Có nhiều chỉ tiêu đo lường quyết định chi trả cổ tức như cổ tức một cổ phần thường (Dividend per Share), tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio) hay tỷ suất cổ tức (Dividend Yield) nhưng trong nghiên cứu này tác giả chọn tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio) để làm thước đo quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức của một công ty do thước đo này phổ biến và thể hiện được năng lực nội tại của một công ty.
Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio) là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà các cổ đông của công ty cổ phần được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập một cổ phần thường mà công ty tạo ra trong kỳ (Damodaran (2011)) và được tính như sau: Công thức tính: Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) = Cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS) Trang 12 Tỷ lệ chi trả cổ tức phản ảnh năng lực bên trong của một công ty, cổ tức cho biết công ty dành ra bao nhiêu phần trăm từ thu nhập một cổ phần thường để tái đầu tư. Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh công ty đã sử dụng đại bộ phận lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, phát triển kinh doanh hay triển vọng tăng trưởng thấp. Và ngược lại với tỷ lệ chi trả cổ tức thấp. Hay nói cách khác, tỷ lệ chi trả cổ tức đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện hình ảnh của một công ty, tỷ lệ chi trả cổ tức vừa là căn cứ để nhà đầu tư ra quyết định cho danh mục đầu tư hiệu quả vừa thể hiện được tiềm năng, triển vọng tăng trưởng của công ty trong tương lai.
Những nhà đầu tư nào muốn tìm kiếm thu nhập cho những nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại sẽ thích một công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao chứ không phải là từ lợi vốn do tăng giá cổ phần thường trong tương lai. Ngược lại, những nhà đầu tư chưa có nhu cầu nhận thu nhập từ cổ tức ngay trong hiện tại và mong chờ một sự gia tăng giá trị cổ phần thường trong tương lai thì họ lại thích các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp và giữ lại lợi nhuận nhiều hơn thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, phát triển. Dựa vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài là các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức, tác giả đã chọn DPR là thước đo quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức áp dụng cho đề tài nghiên cứu, và phần lớn các nghiên cứu trước đây cũng đã sử dụng thước đo này như nghiên cứu của Rozeff (1982), Lloyd (1985), Amidu & Abor (2006). Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của các yếu tố bên trong đến quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức Theo Ngô Kim Phượng và các cộng sự (2016), hoạt động công ty bao gồm tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu mua các yếu tố đầu vào, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ.
Các hoạt động của công ty có thể phân chia thành các lĩnh vực như sản xuất, tiếp thị bán hàng và quản lý tài chính; trong đó, tài chính là khâu rất quan trọng trong hoạt động của công ty, bởi vì tài chính bao gồm các quá trình liên quan đến việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Hoạt động của công ty nói chung và quản lý tài chính công ty nói riêng Trang 13 chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố bên trong và bên ngoài công ty.