ĐẶT VẤN ĐỀ Theo phân loại của chương trình PHCNDVCĐ, Khuyết tật vận động (hay còn gọi là khó khăn về vận động) là một trong 7 nhóm tàn tật thường gặp. KTVĐ có tỷ lệ rất lớn, thường đứng cao nhất trong các dạng tàn tật [3], [7], [39]. Tỷ lệ KTVĐ dao động từ 1- 3%0 dân sổ và chiếm từ 25 - 70% tổng số người tàn tật [6], [7], [39]. Trẻ KTVĐ không những gặp rất nhiều khó khăn trong di chuyển, học tập, hướng nghiệp, trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn gặp những trở ngại rất khó khắc phục trong vấn đề việc làm và thu nhập khi trưởng thành.
Trẻ KTVĐ là một gánh nặng kinh tế và tinh thần cho gia đình và xã hội. Người KTVĐ không sản xuất ra của cải vật chất đóng góp cho xã hội mà ngược lại xã hội còn phải mất một phần chi phí để chăm lo cho họ [6], [7], [39]. Hiện nay trên thế giới những nghiên cứu về KTVĐ và nguy cơ gây KTVĐ rất được chú trọng, bởi vì căn cứ vào các nghiên cứu này các nhà y tế công cộng có thể đề ra các biện pháp dự phòng KTVĐ một cách rất hữu hiệu [36]. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy KTVĐ có mối liên quan chặt chẽ với một số yếu tố nguy cơ trước, trong và sau khi sinh [28].
Ví dụ: những trẻ có mẹ bị bệnh bướu cổ trong thời kỳ mang thai có nguy cơ KTVĐ cao gấp 5 lần những trẻ khác; trẻ đẻ nhẹ cân có nguy cơ KTVĐ cao gấp 2,8 lần những trẻ có cân nặng lúc đẻ bình thường; trẻ bị viêm não, màng não sau khi đẻ có nguy cơ KTVĐ cao gấp 29 lần những trẻ không bị bệnh đó; những trẻ mà mẹ có trình độ văn hoá thấp; mẹ có tuổi sinh đẻ quá thấp hoặc quá cao; những trẻ bị ngạt khi đẻ; trẻ bị sốt cao co giật sau khi đẻ; trẻ đẻ non; trẻ SDD nặng sau đẻ và nhiều nguy cơ khác như đẻ khó; dùng Forceps hút lấy thai. đều dẫn đến trẻ có nguy cơ KTVĐ rất cao [5], [26], Có một đặc điểm chung là hầu hết các nguy cơ đã nêu trên đều có thể phòng tránh được. Ở Việt Nam đã có một sổ nghiên cứu xác định tỷ lệ trẻ KTVĐ và mô hình tàn tật, nhu cầu PHCN của trẻ KTVĐ. Qua đó đã có những chương trình can thiệp PHCN như: vận động trị liệu, hoạt động trị liệu, tập luyện tại nhà, hỗ trợ xe lăn, dụng cụ chỉnh hình, dụng cụ trợ giúp di chuyển, giáo dục hướng nghiệp.
cho trẻ KTVĐ, nhằm làm giảm hậu quả của giảm khả năng và tàn tật, giúp trẻ KTVĐ hội 2 nhập và tái hội nhập xã hội [3], [19]. Mặc dù các biện pháp can thiệp này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ nhưng đó vẫn là những biệt pháp còn mang tính bị động, chỉ là nhằm khắc phục những hậu quả đã xảy ra [20]. Biện pháp can thiệp quan trọng là cần chủ động hạ thấp tỷ lệ KTVĐ bàng các hoạt động dự phòng sớm [4]. Nhưng cho đến nay, tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về nguy cơ gây KTVĐ.
Chúng ta không biết các nguy cơ gây KTVĐ hay gặp ở Việt Nam là gì? ở các vùng, các khu vực là như thế nào? Vì vậy, chúng ta cũng chưa thể đề ra những biện pháp phòng bệnh cho người dân một cách phù hợp và có cơ sở khoa học. Tại huyện Hoài Đức - Hà Tây năm 2006, dự án: "Thử nghiêm mô hình quản lý thông tin và giảo dục trẻ khuyết tật dưới 06 tuổi" được Đại sứ quán New Zealand tại Việt Nam tài trợ và do Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Bệnh viện huyện, phòng Y tế, TTYTDP huyện Hoài Đức kết họp với Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện đã tiến hành khám sàng lọc, phân loại tàn tật và áp dụng thử nghiệm mô hình quản lý thông tin và giáo dục cho cha mẹ những trẻ khuyết tật dưới 06 tuổi. Theo kết quả khám sàng lọc của dự án tại huyện Hoài Đức có hơn 360 trẻ khuyết tật dưới 06 tuổi, trong đó KTVĐ có tới 116 trẻ [1]. Trẻ KTVĐ chiếm tỷ lệ 32,2% số trẻ khuyết tật, đây là một tỷ lệ cao hơn so với kết quả điều tra ở một số khu vực khác trong nước và các nghiên cứu khác trên thế giới [7], [19], [26].
Tuy nhiên cho đến hiện nay tại huyện Hoài Đức cũng chưa có nghiên cứu nào về nguy cơ gây KTVĐ ở trẻ. Các nhà y tế công cộng vẫn chưa biết nguy cơ gây KTVĐ ở đây là gì? Với những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Xác định niột sổ yếu tố nguy cơ gãy khuyết tật vận động ở trẻ dưởì 06 tuổi tại huyện Hoài Đức năm 2007”. Ket quả nghiên cứu góp phần giúp cho địa phương có một cái nhìn sâu sắc hơn về KTVĐ và là một tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho các nhà y tế công cộng, các nhà lãnh đạo địa phương lập kế hoạch dự phòng và đưa ra những khuyến nghị phù hợp cho việc phòng ngừa KTVĐ trong tương lai. 2! 4 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1.
Mục tiêu chung: Xác định một số yếu tố nguy cơ gây khuyết tật vận động ở trẻ duới 06 tuổi tại huyện Hoài Đức, Hà Tây - năm 2007 và đề xuất biện pháp dự phòng sớm khuyết tật vận động trong tương lai. Mục tiêu cụ thể: 2. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học nhóm trẻ khuyết tật vận động dưới 06 tuoi (tuoi, giới, mức độ, phân loại) tại huyện Hoài Đức, Hà Tây - năm 2007. Xác định một số yếu tố nguy cơ gây khuyết tật vận động ở giai đoạn trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh.
TÓNG QUAN TÀI LIỆU I. Quá trình tàn tật [7]; [20] 1. Định nghĩa Tàn tật là hậu quả do quá trình bệnh lý, khiếm khuyết, giảm khả năng gây ra. Khiếm khuyết: Là sụ mất mát, thiếu hụt hay bất bình thường về cấu trúc, chức năng giải phẫu, sinh lý.
Ví dụ: cụt chân, cụt tay do chấn thương. Để người bình thường và bệnh nhân khỏi trở thành khiếm khuyết, gọi là phòng ngừa tàn tật cap I, bao gồm: - Tiêm chủng. - Phát hiện và điều trị sớm, đúng. - Bảo đảm dinh dưỡng cho mọi người, đặc biệt là bà mẹ và trẻ em.
- Giáo dục sức khỏe trong nhân dân. - Bảo vệ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình. - Cung cấp nước tốt. - Trong sạch môi trường tự nhiên, xã hội.
- Phát triển sớm màng lưới Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng. Đặc biệt là Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Giảm khả năng: Từ khiếm khuyết có thể dẫn đến giảm khả năng. Đó là tình trạng mất hoặc giảm một hoặc nhiều khả năng nào đó của cơ thể.
Ví dụ: do đục nhân mắt bệnh nhân không nhìn rõ được; do não bị tổn thương trẻ em bị rối loạn vận động. Các biện pháp ngăn ngừa tình trạng khiếm khuyết dẫn đến giảm khả năng gọi là phòng ngừa tàn tật cấp II, bao gồm: - Phát hiện khiếm khuyết sớm. - Điều trị đúng và sớm. - Tìm công ăn việc làm, dạy nghề.
- Giáo dục đặc biệt. - Phát triển sớm màng lưới Phục hồi chức năng. Tàn tật: Thường do khiếm khuyết, giảm khả năng gây nên. Tàn tật là tình trạng người bệnh do khiếm khuyết, giảm chức năng ngăn cản của người đó thực hiện đầy đủ vai trò của mình trong xã hội mà người cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàn cảnh, cùng công việc thực hiện được.
Ngăn ngừa tình trạng giảm khả năng dẫn đến tàn tật gọi là phòng ngừa tàn tật cap III, bao gồm: - Triển khai phục hồi chức năng ở mọi cơ sở điều trị và nơi có nguy cơ khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật. - Sử dụng các dụng cụ chỉnh hình, trợ giúp thay thế với kỹ thuật thích nghi. Các kỹ thuật phục hồi: Vật lý trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu, Giáo dục đặc biệt, Đào tạo nghề và tìm kiếm công ăn việc làm, tăng thu nhập. Dịch tễ học tàn tật [trích 19]; [39] Hiện nay, trên thế giới, người tàn tật chiếm 10% dân số (khoảng 500 triệu người tàn tật).
Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu người tàn tật, trong số đó: 75% chưa có sự chăm sóc của y tế và xã hội; 85% nguyên nhân là do bệnh tật, tuổi cao; 10% do bạo lực và tai nạn; 5% do dị tật bẩm sinh [trích 19]; [39]. ở các nước đang phát triển, nghiên cứu về dịch tễ học tàn tật được tiến hành trên nhiều đối tượng và địa bàn khác nhau. KJ Alcock, CRJC Newton nghiên cứu tần xuất mắc và nguy cơ gây khuyết tật hệ thần kinh trung ương tại một vùng nông thôn của Kenya: 61/1.000 trẻ bị mắc KTVĐ hệ thần kinh trung ương (95%CI = 48-74); 41/1.000 trẻ bị mắc chứng động kinh; trẻ sinh non thiếu tháng là yếu tố nguy cơ điển hình gây KTVĐ (OR = 1,7; 95%CI = 1,09-1,65) [38], Mohammad AR, Shukur MH ở Malaysia nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc của tật nứt đốt sống ở trẻ em cho thấy, tỷ lệ hiện mắc ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội và quá trình đô thị hóa: năm 1992, tỷ lệ này là 5/1.000 trẻ sinh ra thuộc nhóm có nguy cơ cao [27]. Tại Việt Nam, năm 1999, Hoàng Trung Thông điều tra theo phương pháp gõ cửa từng nhà 7 vùng dân cư của tỉnh Khánh Hòa với tổng điều tra dân số là 1.000, đã xác định tỷ lệ tàn tật chung là 6-10%; Nguyễn Thị Minh Thủy (2001) điều tra gõ 7 cửa từng nhà 4 vùng dân cư của Hà Tây với tổng số dân cư là 60.026 người, được tiến hành công phu theo 2 bước: điều tra cơ bản và khám sàng lọc trẻ khuyết tật cho thấy tỷ lệ hiện mắc bại não là 3,28/10.000 trẻ dưới 16 tuổi; 1,3/10.000 trẻ trên 15 tuổi.
Nguyên nhân gây tàn tật [20] 3. Do bệnh tật, tuổi cao 3. Bản thân tàn tật tạo ra tàn tật khác 3. Thái độ sai lệch của xã hội với tàn tật 3.
Do nền y học chưa có mạng lưới PHCN hiệu quả, y học quá lạc hậu hoặc quá phát triển 4. Hậu quả của tàn tật [20] Neu không có biện pháp dự phòng hữu hiệu và PHCN đầy đủ, toàn diện thì tàn tật sẽ xảy ra và gây hậu quả nặng nề cho xã hội, gia đình và chính bản thân người tàn tật. Đối vói xã hội - Bản thân người tàn tật không tham gia quá trình sản xuất trong xã hội. - Xã hội phải chi phí lớn, giúp đỡ người tàn tật.