Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN 1. Một số vấn đề về giới tính trong ngôn ngữ “Đàn ông đến từ sao Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim” là cách nói ẩn dụ về sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới, trong đó có ngôn ngữ [31, 237]. Thực tế cho thấy sự khác nhau đó là có thật và theo đó, phương ngữ giới là một biểu hiện của sự phân chia hai nửa đàn ông và đàn bà trong xã hội. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới đã được các nhà ngôn ngữ học xã hội trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Những khảo sát theo hướng so sánh, đối chiếu giữa ngôn từ của nam giới và ngôn từ của nữ giới đã được tiến hành ngày một nhiều và sâu, đặc biệt là từ đầu thế kỷ XX đến nay. Với phạm vi đề tài này, chúng tôi xin điểm qua đặc điểm ngôn ngữ giới ở những bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng. Bình diện ngữ âm Bình diện này có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc vào những yếu tố như: sinh lí (cấu tạo bộ máy cấu âm, vị trí phần ngôn ngữ trong não), tâm lí, đặc trưng xã hội. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát được rất nhiều điểm khác nhau trong cách phát âm giữa nam giới và nữ giới, trong đó thể hiện rõ nhất của sự khác nhau này là sự chênh lệch về âm vực trung bình của hai giới.
Theo một nghiên cứu năm 1989 của Gison và Ramsaran, âm vực của nam là từ 100 – 150 Hz, còn âm vực của nữ là từ 200 – 325 Hz. Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, gần đây một số nhà nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệm trên những người nói tiếng phổ thông Trung Quốc bằng phần mềm “Speech Analysis for Window” (Phân tích giọng nói trong Window). Chương trình này sẽ phân tích một đoạn lời nói và cho ra chỉ số F0 (average fundamental frequency – tần số cơ bản trung bình) để phân biệt giới tính. Kết Luan van 8 quả của thực nghiệm này là chỉ số F0 bằng 150 Hz, tức là người nói với âm vực trung bình cao hơn 150 Hz thì thường là nữ giới, còn thấp hơn 150 Hz thì là nam giới.
Các nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, nam giới thường nói giọng trầm, mạnh còn nữ giới thường nói với giọng nhẹ nhàng, mềm mại. Phụ nữ thường phát âm chuẩn mực và hay lên giọng ở cuối câu hơn nam giới. Trong tiếng Anh Mỹ, nam giới sử dụng âm mũi hóa nhiều hơn phụ nữ vì âm mũi hóa mang âm sắc thô, mạnh, có vẻ nam tính. Bình diện từ vựng Đặc điểm giới thể hiện hết sức rõ ràng trong hình thức cấu tạo từ của nhiều ngôn ngữ.
Nói một cách cụ thể hơn, trong mỗi ngôn ngữ đều có những từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà không dùng cho giới kia. Chẳng hạn, trong tiếng Nga, các từ loại như danh từ, đại từ, động từ, tính từ. đều phải phân biệt giống đực hay giống cái dựa vào tiêu chí đặc trưng. Trong tiếng Anh, sự phân biệt gới tính được thể hiện qua các đại từ: he/his dùng cho nam và she/her dùng cho nữ.
Các hậu tố -ess, -tte, -ine chuyên dùng để cấu tạo danh từ liên quan đến nữ giới. Ví dụ: god – godess (thần – nữ thần); host – hostess (chủ nhà – bà chủ nhà); hero – heroine (anh hùng – nữ anh hùng). Cũng giống như tiếng Anh, tiếng Hán cũng có những tiêu chí hình thức biểu thị phạm trù giới tính. Hơn nữa, những đặc trưng phân biệt cũng phần lớn thiên về những từ dùng cho nữ giới, trong khi những từ dùng cho nam giới lại thường không mang một tiêu chí hình thức đặc biệt nào.
Trong tiếng Hán, các danh từ chỉ người có liên quan đến phụ nữ thường được đánh dấu bằng bộ nữ (女), trong khi các từ được coi là đối lập tương ứng với những từ này lại thường không mang dấu hiệu gì về giới tính. Ví dụ: 男 – 女 (nam – nữ); 夫 – 妻/公 – 婆 (chồng – vợ); 爸爸 – 妈妈 (ba – mẹ); 爷爷 – 奶奶 (ông – bà); 哥 哥 – 姐姐 (anh trai – chị gái); 弟弟 – 妹妹 (em trai – em gái). [31, 245] Luan van 9 Sự kỳ thị giới tính trong xã hội, đặc biệt là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” cũng được phản ánh khá rõ nét trong ngôn ngữ, nhất là trên tiêu chí hình thức của bình diện cấu tạo từ. Hàng loạt các từ tiếng Anh được cấu tạo có yếu tố man phản ánh vị thế xã hội của nam giới và được cho là điển hình của tư tưởng nam quyền, hạ thấp phụ nữ.
Mô hình “x + man” là công thức khá quen thuộc để cấu tạo nên những danh từ chỉ nghề nghiệp “dường như chỉ để cho nam giới và chỉ nam giới mới có thể làm được”. Hơn thế nữa, ngay cả từ woman (phụ nữ) trong tiếng Anh cũng phải có yếu tố man; human, mankind (loài người, nhân loại) cũng không tách được yếu tố man. Mặt khác, trong tiếng Hán, hàng loạt những từ ngữ mang ý nghĩa xấu xa, thấp hèn, đáng ghét. đều có chứa bộ nữ (女).
Chẳng hạn như: 奸 – T 0 gian (gian trá, gian xảo); 妖 – yêu (yêu quái); 妒 – đố (đố kị, ghen ghét); 婪 – lam (tham lam); 妄 – vọng (ngông cuồng, cuồng vọng). [31, 252] T 0 Liên quan đến vấn đề kỳ thị giới tính thể hiện trong hình thức cấu tạo từ, không thể không đề cập đến hiện tượng thường đặt những yếu tố chỉ nữ trước hoặc sau những danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp được đánh giá tương đối cao trong xã hội, tạo nên một tiêu chí mang tính hình thức trước các danh từ này khi nói về phụ nữ. Ví dụ: Bác sĩ, doctor, 大夫 – nữ bác sĩ, women/lady doctor, 女大夫 Luật sư, lawyer, 律师 – nữ luật sư, women/female lawyer, 女 律师 3T T 3 T 3 Đại sứ, ambassador, 大使 – nữ đại sứ, ambassadress, 女大使 Anh hùng, hero, 英雄 – nữ anh hùng, heroine, 女英雄 Rõ ràng, điều này phản ánh một sự mặc định ngầm rằng những nghề này “đương nhiên là của nam giới”, nếu có phụ nữ tham gia thì cũng chỉ là cá biệt, cần được “đánh dấu”, lưu ý. Hiện nay, cách dùng từ có đánh dấu phụ nữ này Luan van 10 đã không còn thấy hoặc ít thấy, chứng tỏ xã hội đã thay đổi quan niệm và vị thế của người phụ nữ trong xã hội đã được nâng cao.
[31, 252] Bên cạnh tiêu chí hình thức, tiêu chí ngữ nghĩa cũng góp phần không nhỏ trong việc bộc lộ tác động của nhân tố giới tính trên bình diện cấu tạo từ. Trong kho từ vựng phong phú của rất nhiều ngôn ngữ, gần như là có sự mặc định ngầm trong xã hội, có một lớp từ chỉ dành riêng để nói về nam giới và một lớp từ khác chỉ dành riêng để nói về nữ giới. Ví dụ, khi nhắc đến các từ như: hộ lí, thư ký, bảo mẫu, nội trợ… người ta liên tưởng ngay đến công việc của phụ nữ, còn trong trường hợp muốn nói là công việc của nam giới thì phải thêm tiêu chí chỉ nam giới vào phía trước các từ. Bên cạnh đó, các từ dùng để chỉ ngoại hình hay tính cách dành riêng cho từng giới cũng rất đáng chú ý.
Ví dụ, trong tiếng Hán và tiếng Việt, các từ thùy mị, mềm mại, uyển chuyển, duyên dáng, quyến rũ. đều dành để miêu tả cho phái nữ, còn các từ như khôi ngô, tuấn tú, cường tráng, tráng kiện. dường như chỉ dành đặc tả ngoại hình của phái mạnh. Ngoài ra, sự phân định rõ ràng về giới tính cũng có thể nhận thấy ở các cụm từ trong tiếng Việt kiểu như: “lèm bèm như đàn bà”, “cục xúc như đàn ông”.
Ngoài ra, sự ảnh hưởng của giới tính đối với ngôn ngữ còn được thể hiện trong cách sử dụng từ vựng ở hai giới. Chẳng hạn, đến đầu thế kỷ XX, E.Spair đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể về hiện tượng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ người Yana Indian ở California (Mỹ). Cùng một hiện tượng là “lửa” nhưng nam giới thì nói là anua, còn nữ giới thì lại nói là auh; cùng một con vật là “lừa”, nam giới nói bana, nữ giới lại nói ba. Ở vùng Chiquito, cùng có nghĩa là “bố tôi”, “mẹ tôi” nhưng nam giới lại sử dụng ijai, ijai, còn nữ giới thì sử dụng isupu, ipaki.
[31, 237] Đây cũng là một hiện tượng thường gặp trong tiếng Nhật truyền thống, dưới đây chỉ là một số trong rất nhiều trường hợp mà nam giới và phụ nữ Luan van 11 dùng những từ vựng khác nhau để diễn đạt cho cùng một ý nghĩa. Nam giới Nữ giới bụng hara onaka dưa muối tukemono okookoo nước mizu ohija Mặt khác, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nữ giới dùng những cách nói mang tính lịch sự hơn nam giới. Các nghiên cứu về tâm lí học đã chứng minh rằng xã hội thường biểu hiện sự khoan dung lớn hơn đối với nam giới trong việc sử dụng những từ ngữ thô lỗ hoặc cấm kị. Do đó, nữ giới thường tránh sử dụng những từ thô tục, vì hành vi đó sẽ hạ thấp địa vị xã hội của họ.
Ví dụ, khi nhìn thấy một mẩu bơ thừa trong tủ lạnh, phản ứng của hai vợ chồng tỏ ra rất khác nhau: [30, 145-146] Chồng: Shit! You’ve put the peanut butter in the refrigerater again. (Đồ rác rưởi! Sao lại cứ để mẩu bơ thừa vào tủ lạnh thế này.) Vợ: Oh dear! You’ve put the peanut butter in the refrigerater again. (Trời ơi! Sao lại cứ bỏ mẩu bơ thừa và tủ lạnh thế này.) Trong tiếng Việt, khi xưng gọi, các em gái hay dùng hai cặp “tên – tên” và “mình – đằng ấy”, trong khi các em trai thường dùng hai cặp “tao – mày” và “tớ – cậu”. [4, 118] Trong khi phái nữ thường thích thú bàn luận các vấn đề liên quan đến nghệ thuật, xã hội và tôn giáo… thì nam giới thường có hứng thú với các đề tài về lí luận, kinh tế, chính trị,… Có thể thấy, sự khác nhau về sở thích cũng như mối quan tâm khác nhau về các lĩnh vực trong đời sống xã hội của hai giới là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng khả năng nắm vững các từ thuộc các đề tài khác nhau của hai giới không giống nhau, chính điều này tạo nên sự Luan van 12 khác biệt trong tần suất sử dụng các từ thuộc các lĩnh vực khác nhau của nam và nữ.