chương 1, luận án đã giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt 10 Nam; các nhiệm vụ, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; xác định đối tượng, phạm vi và quy trình nghiên cứu. Luận án cũng nêu rõ các kết quả đạt được, đóng góp của luận án về lý luận và thực tiễn góp phần giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam. 11 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH RỜI BỎ DOANH NGHIỆP CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ 2. Ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ 2.
Bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ là một trong những hoạt động kinh doanh dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, góp phần ổn định kinh tế, hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển kinh tế nên được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Vì vậy, một số nội dung như bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, đại lý bảo hiểm nhân thọ. được chú trọng nghiên cứu. Khái quát về bảo hiểm nhân thọ a.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo hiểm nhân thọ BHNT đã có bề dày lịch sử ra đời và phát triển, nhưng hiện nay vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về BHNT. Khái niệm BHNT chủ yếu được nghiên cứu trên hai phương diện kỹ thuật và pháp lý, một số khái niệm điển hình về BHNT như sau: Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), bảo hiểm nhân thọ được định nghĩa trên phương diện kỹ thuật: “Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bao hàm những cam kết mà sự thực hiện những cam kết đó phụ thuộc vào tuổi thọ của con người”. Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) tại khoản 12 điều 3 nêu định nghĩa về bảo hiểm nhân thọ “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” Hai khái niệm trên đều có mối quan tâm chung là đối tượng được bảo hiểm “tuổi thọ con người", “trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết”. Tuy nhiên, hai khái niệm này chưa đề cập đến nội dung cam kết giữa người tham gia bảo hiểm và DNBH.
Cam kết này được thể hiện rõ hơn qua các khái niệm sau: “BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà 12 trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn” (Nguyễn Văn Định, 2008). Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), bảo hiểm nhân thọ được định nghĩa trên phương diện pháp lý: “Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm, theo đó, để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, DNBH cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người bảo hiểm một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp định kỳ trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trước một thời điểm nhất định đã được ghi rõ trên hợp đồng bảo hiểm”. Trong công trình nghiên cứu “Giải pháp thỏa mãn nhu cầu tiềm năng về bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” của tác giả Phí Trọng Thảo (2007) đã đưa ra định nghĩa về bảo hiểm nhân thọ như sau: “Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn.” Các khái niệm trên cho thấy cam kết trong BHNT chủ yếu bao gồm: cam kết đóng phí đầy đủ, đúng hạn của người tham gia bảo hiểm và cam kết chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) DNBH. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu ngày càng cao của người dân, BHNT hiện nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi bảo hiểm cho hai sự kiện sống hoặc tử vong mà còn bảo hiểm cho những sự kiện liên quan đến sức khỏe và khả năng lao động của người được bảo hiểm (bảo hiểm sức khỏe: bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo.
Mặt khác, BHNT còn là công cụ để mỗi cá nhân và gia đình sử dụng như công cụ đầu tư với các dòng sản phẩm liên kết chung và sản phẩm bảo hiểm có chia lãi. Như vậy, dù được hiểu theo cách nào thì BHNT có thể được hiểu là loại hình bảo hiểm bảo hiểm cho những sự kiện bảo hiểm liên quan đến tính mạng, tình trạng sức khỏe gắn liền với tuổi thọ của người được bảo hiểm. BHNT là công cụ hữu hiệu giúp người tham gia bảo hiểm hoạch định và thực hiện những kế hoạch tài 13 chính trong tương lai nhằm bảo vệ người thân, gia đình trước những rủi ro hoặc những khó khăn về tài chính liên quan đến tuổi thọ con người. Các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về sản phẩm BHNT và đều được khẳng định hợp đồng bảo hiểm là biểu hiện cụ thể của sản phẩm BHNT.
Hợp đồng BHNT là bằng chứng pháp lý ghi nhận cam kết về quyền và nghĩa vụ của DNBH và khách hàng tham gia bảo hiểm. Nguyễn Văn Định (2009), “Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra”. Sản phẩm BHNT được biểu hiện trên hợp đồng bảo hiểm (trên quy tắc, điều khoản, biểu phí). Trong sách “Phổ biến kiến thức nghiệp vụ và pháp luật về BHNT”, khái niệm sản phẩm bảo hiểm được nêu rõ: “Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm dịch vụ tài chính do doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính hoặc dự phòng về tài chính của người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm để ứng phó trước các rủi ro, sự kiện bảo hiểm hoặc đầu tư sinh lời.
Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là vô hình nên được thể hiện bằng cách diễn đạt bằng văn bản bao gồm: - Quy tắc và điều kiện bảo hiểm - Hợp đồng bảo hiểm soạn sẵn để khi giao kết trên cơ sở giấy yêu cầu bảo hiểm đồng ý chấp thuận của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm điền vào chỗ bỏ trống - Tài liệu minh họa bán hàng bao gồm các quyền lợi người được bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm cam kết, quyền lợi của người được bảo hiểm có thể được hưởng (chưa cam kết) và loại trừ bảo hiểm.” (Phùng Đắc Lộc, 2017) Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được khẳng định là biểu hiện cụ thể của sản phẩm BHNT và được định nghĩa qua một số nghiên cứu như sau: Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), “Hợp đồng BHNT là sự thỏa thuận giữa hai bên, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm hoặc các khoản trợ cấp) cho người dược bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) tại khoản 1 điều 12 đã nêu rõ: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó, bên mua phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người 14 hưởng thụ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Sản phẩm bảo hiểm được biểu hiện cụ thể qua hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm thực chất là lời hứa, lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Như vậy, BHNT dù được hiểu theo khái niệm nào cũng mang tính nhân văn sâu sắc bởi BHNT mang đến sự bảo vệ, yên tâm, thịnh vượng không chỉ cho mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Sự gia tăng thu nhập từ chia lợi nhuận đầu tư của doanh nghiệp BHNT và tiền chi trả bảo hiểm nhằm giảm bớt những khó khăn về tài chính đối với người tham gia hoặc người thân hoặc đáp ứng được các nhu cầu đầu tư của người dân khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của BHNT cũng góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Qua phân tích các khái niệm về BHNT cho thấy BHNT có những đặc điểm như sau: - Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm “vô hình” chỉ là lời hứa, lời cam kết được ghi trong hợp đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra DNBH sẽ chi trả, bồi thường tiền bảo hiểm. - BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ. Thật vậy, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ cho dù bên mua bảo hiểm chỉ mới đóng một khoản tiền phí rất nhỏ nhưng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả số tiền bảo hiểm rất lớn. Tức là, bên mua bảo hiểm đã thực hiện một việc tiết kiệm dài hạn để có một khoản tiền lớn trong tương lai.
Hoặc họ đã để lại một khoản tiền lớn cho người thân và gia đình khi không may rủi ro xảy đến cho dù họ mới chỉ đóng phí rất nhỏ. - Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp, các điều khoản trong hợp đồng BHNT cũng rất phức tạp. Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có nhiều loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có hợp đồng 5 năm, 10 năm; hợp đồng tham gia chia lợi nhuận và hợp đồng phi lợi nhuận. Mỗi hợp đồng khác nhau thì có những quy định khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, tuổi của người tham gia.