CHƯƠNG 1 Trong nội dung chương này, Nghiên Cứu Sinh đã trình bày được tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, tổng hợp những những lý luận và thực tiễn về nghiên cứu ý định nghỉ việc giai đoạn 2015 -2021 trên địa bàn Hà Nội. Việc xác định được mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu nhằm mở ra cho Nghiên Cứu Sinh một hướng nghiên cứu mới có ý nghĩa khoa học. Không gian và thời gian được lựa chọn nghiên cứu khá phù hợp với tính cấp thiết của đề tài và khả năng của nghiên cứu của tác giả. Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn phù hợp đó là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lương, thông qua đó Luận án đã có những đóng góp rất cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn về việc xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định nghỉ việc của nhân sự ngành khách sạn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm về ý định nghỉ việc Ý định nghỉ việc thuộc nhóm hành vi được rất nhiều học giả nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị nhân sự, nó có vai trò phản ánh tình hình thực tế nơi làm việc, mối quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau, giữa cán bộ nhân viên với chủ đầu tư, với khách hàng. Theo tác giả Cho và Lewis (2012), Emberland và Rundmo (2010), Dipietro và Condly (2007), Karatepe, Rezapouraghdam và Hassannia (2020), Tuấn, Lộc và Đề, 2016), Chung (2018), Wang và cộng sự (2020), Limyothin và Trichun (2012) nghiên cứu đối với ý định nghỉ việc cho thấy biểu hiện rõ ràng nhất của người lao động là sự chán nản trong công việc bởi một số lý do. Kết quả cuối cùng dẫn tới hành động bỏ việc sẽ làm cho tổ chức bị tổn hại nghiêm trọng về con người, chất xám, công nghệ.
Kinh doanh khách sạn ở Việt Nam được coi là ngành kinh doanh có biến động nhân sự cao do tính chất ngành cộng thêm việc mở rộng kinh doanh các khách sạn lớn, các quần thể du lịch và sự đầu tư của các tập đoàn khách sạn quốc tế ồ ạt vào các nơi có tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch dẫn đến việc cạnh tranh nhân sự là nguyên nhân cho sự gia tăng ý định nghỉ việc. Một số quan điểm về ý định nghỉ việc của các tác giả: “Trong ngành sức khỏe, tâm lý đó là ý định thay đổi công việc hoặc ý định rời đi tại nơi làm việc hiện tại” (Amin và Akbar, 2013). “Ý định nghỉ việc được hiểu là một yếu tố tiêu cực đối với hiệu quả và năng suất của tổ chức vì nó dẫn đến một số kết quả tiêu cực cho tổ chức như mất một nhân viên” (Aykan, 2014). “Ý định thay đổi công việc là hành động từ bỏ công việc hiện tại của nhân viên và xu hướng tìm kiếm công việc trong tổ chức khác của họ” (Jung và cộng sự, 2012).
“Ý định nghỉ việc được chia thành hai loại bao gồm ý định nghỉ việc tự nguyện và ý định nghỉ việc không tự nguyện” (Albattat và Som, 2013). Ý định nghỉ việc của lao động phổ thông phần lớn do các mối quan hệ với đồng nghiệp, môi trường làm việc, lương thưởng và phúc lợi, sự căng thẳng, sự hài lòng và sự gắn kết với tổ chức. Ý định nghỉ việc của công chức nhà nước bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến dự định nghỉ việc của họ như: sự phù hợp, hành vi lãnh đạo, quan hệ nơi làm việc, huấn luyện và phát triển, lương thưởng và công nhận, truyền thông, sự yêu thích và môi trường làm việc đều có quan hệ nghịch biến với dự định nghỉ việc (Võ Quốc Hưng và cộng sự, 2010). Ý định thay đổi công việc được nghiên cứu và xem TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 xét yếu tố động lực làm việc, căng thẳng trong công việc, tình trạng kiệt sức trong công việc, sự thỏa mãn trong công việc và cam kết của tổ chức về ý định thay đổi công việc (Kulachai và Amaraphibal, 2017).
Ý định nghỉ việc được nghiên cứu dựa trên giả thuyết về sự không thích làm việc, mối quan hệ giữa thói “tham công tiếc việc” và ý định nghỉ việc. Sự thích thú với công việc có thể đóng vai trò như một yếu tố trung gian có ảnh hưởng của động lực làm việc đối với ý định nghỉ việc (Sánchez-Medina và cộng sự, 2019). Ý định nghỉ việc của nhân sự được nghiên cứu bởi các mối quan hệ giữa các nhân tố như khả năng thích ứng trong công việc, hạnh phúc trong công việc, cảm nhận cơ hội thăng tiến trong công việc (Rasheed và cộng sự, 2020). “Ý định nghỉ việc là cảm nhận của một cá nhân về việc ở lại hay rời bỏ tổ chức nơi họ đang làm việc” (Hemdi và Nasurdin, 2006).
“Ý định nghỉ việc là dự định rời khỏi môi trường làm việc hiện tại để chuyển sang môi trường làm việc khác” (Quốc Hưng và Hào Thi, 2010). “Ý định nghỉ việc là quá trình nhận thức, suy nghĩ, lập kế hoạch và mong muốn rời khỏi một công việc” (Feng và Angeline, 2010). “Ý định nghỉ việc là ý định tự nguyện của nhân viên về việc từ bỏ công việc họ đang làm, không bao gồm việc bị đuổi khỏi công việc” (Limyothin và Trichun, 2012). “Ý định nghỉ việc là xác suất trong tương lai gần mà nhân viên sẽ quyết định bỏ công việc họ đang làm hoặc ý định tìm kiếm một công việc mới có thể mang lại nhiều cam kết của tổ chức hơn hiện tại” (Cho, 2009).
“Ý định thay đổi công việc là nội dung đề cập đến việc sẵn sàng rời bỏ tổ chức một cách có ý thức và có chủ ý”, (Erdil và Müceldili, 2014). “Ý định nghỉ việc là hành động tích cực phá hoại của nhân viên trong trường hợp không hài lòng từ điều kiện làm việc”, (Rusbelt và cộng sự, 1988). “Ý định nghỉ việc chỉ đơn giản là liệu một nhân viên có mục tiêu tự chấm dứt công việc của mình hay không”, (Cenkci và Ötken, 2014). “Ý định nghỉ việc là hoạt động có ý thức và có chủ ý để rời khỏi tổ chức”, (Emiroğlu, Akova và Tanrıverdi, 2015).
“Ý định nghỉ việc của nhân viên là ý định rời khỏi môi trường làm việc hiện tại để chuyển sang môi trường làm việc khác”, (Chew, 2004). TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 “Ý định nghỉ việc là việc nhân viên có ý định sẵn sàng rút khỏi tổ chức một cách tự nguyện và vĩnh viễn” (Vui–Yee và Yen–Hwa, 2019). Trong số các quan điểm và khái niệm về ý định nghỉ việc của nhân sự trong tổ chức ở trên có một số quan điểm cho rằng, ý định nghỉ việc của nhân sự là những suy nghĩ, mong muốn rời bỏ khỏi tổ chức và hướng tới một nơi làm việc khác. Một số tác giả lại đưa ra tác động của các nhân tố đối với người lao động làm cho họ cảm nhận không thỏa mãn, ảnh hưởng đến cam kết của họ dẫn đến có nảy sinh ý định nghỉ việc.
Theo quan điểm của tác giả thì ý định nghỉ việc xuất phát từ những nguyên nhân như sau: Các yếu tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến người lao động tại nơi làm việc không theo kỳ vọng, hoặc tới ngưỡng, vượt xa sự chịu đựng của cá nhân; Bản thân người lao động mong muốn được đáp ứng nguyện vọng nhưng chưa thấy cam kết của tổ chức, do vậy họ đã nảy sinh ra suy nghĩ chuyển đổi công việc; Một nhân tố khách quan dẫn đến công việc hiện tại chưa đem lại cảm giác an tâm mà có chiều hướng ngược lại đó là rủi ro cảm nhận về nơi họ làm việc; Sự đãi ngộ của thị trường lao động bên ngoài có thể làm cho họ so sánh thiệt hơn dẫn tới ý định nghỉ việc để chuyển đổi. Với những căn cứ trên, Nghiên cứu sinh đề xuất khái niệm về ý định nghỉ việc như sau: Ý định nghỉ việc là những suy nghĩ, cân nhắc và tính toán của người lao động đối với hành vi rời khỏi tổ chức hiện tại trong bối cảnh ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp khách sạn. Khái quát về khách sạn và nhân sự khách sạn Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 và Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam 2017, khách sạn là một trong các loại hình cơ sở lưu trú nhằm phục vụ du khách trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Các điều kiện kinh doanh khách sạn bao gồm các giấy tờ đăng ký kinh doanh hợp pháp theo Điều 49, Luật Du lịch; đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
Theo Tiêu chuẩn quốc gia năm 2015, khách sạn ở Việt Nam được xếp hạng từ 1 sao đến 5 sao, trong đó Tổng cục Du lịch thẩm định, công nhận CSLTDL hạng 4 sao và hạng 5 sao, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, công nhận CSLTDL hạng 1 sao, hạng 2 sao, hạng 3 sao. Các tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn bao gồm: vị trí, kiến trúc; trang thiết bị, tiện nghi phục vụ; đội ngũ nhân viên phục vụ và mức độ vệ sinh. Tất cả những nội dung này được hướng dẫn chi tiết trong cuốn tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng khách sạn năm 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 13 Theo “Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn” nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế Quốc dân “Khách sạn là đơn vị cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết cho khách lưu trú qua đêm và thường xuyên được xây dựng tại các điểm du lịch”.
Khách sạn và dịch vụ khách sạn Theo tác giả Harper (2016), ta thấy hoạt động kinh doanh, đầu tư xây dựng và vận hành khách thường cung cấp các sản phẩm và dịch vụ lưu trú, ăn uống và các sản phẩm khác nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng trong thời gian lưu trú tại khách sạn. Có một số sản phẩm của khách sạn mà khách hàng có quyền định đoạt, sử dụng, chuyển nhượng, tuy nhiên phần lớn các sản phẩm khác của khách sạn thì khách hàng chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Ngoài ra, do nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách sạn rất cao cấp, không chỉ đáp ứng ở góc độ ăn ngon, ở đẹp mà sản phẩm khách sạn còn chạm tới các giác quan của khách Crouch, Geoffrey I.