Tổng quan nghiên cứu

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những trụ cột then chốt của hệ sinh thái an sinh xã hội tại Việt Nam, vận hành dựa trên nguyên tắc nhân đạo và chia sẻ rủi ro cộng đồng sâu sắc. Trong giai đoạn 10 năm từ năm 2009 đến năm 2019, tỷ lệ bao phủ BHYT trên toàn quốc đã tăng trưởng vượt bậc từ 45% lên 89,6%, chính thức vượt chỉ tiêu 88,1% do Thủ tướng Chính phủ giao. Mặc dù vậy, toàn quốc vẫn còn hơn 10% dân số, tương đương khoảng 10 triệu người chưa có thẻ BHYT. Nhóm đối tượng này tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, người làm nông lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình và người lao động tự do tại các vùng khó khăn.

Tại huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi – một địa bàn miền núi với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều thách thức, tỷ lệ tham gia BHYT tự nguyện theo hộ gia đình vẫn chưa đạt mức tối ưu. Người dân trên địa bàn thường mang tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ bao cấp của Nhà nước và còn chủ quan đối với việc bảo vệ sức khỏe khi đang trong thể trạng tốt. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để nhận diện chính xác các rào cản tâm lý, xã hội và hành vi, từ đó thúc đẩy ý định tham gia BHYT của người dân.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Đinh Xuân Tuyên tập trung vào mục tiêu xác định và lượng hóa các yếu tố tác động đến ý định tham gia BHYT của người dân huyện Sơn Hà. Nghiên cứu khai thác chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2018 - 2020 kết hợp khảo sát thực địa đầu năm 2021. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Hà và tỉnh Quảng Ngãi nâng cao tỷ lệ bao phủ BHYT, hướng tới mục tiêu 95% dân số tham gia lưới an sinh y tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hai lý thuyết hành vi kinh điển: Thuyết Hành động Hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) do Fishbein và Ajzen phát triển năm 1975, cùng Thuyết Hành vi Hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) do Ajzen hoàn thiện năm 1991. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp mô hình 5 giai đoạn ra quyết định mua của Philip Kotler (2014) và lý thuyết tháp nhu cầu Maslow cải biên cho thị trường châu Á của Schutte và Ciarlante (1998) nhằm lý giải động cơ tiêu dùng dịch vụ công.

Khung khái niệm trọng tâm của luận văn bao gồm các cấu phần cốt lõi:

  • Dịch vụ Bảo hiểm y tế: Hình thức bảo hiểm phi lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 và Luật sửa đổi, bổ sung số 46/2014/QH13.
  • Ý định hành vi: Mức độ sẵn sàng và nỗ lực của cá nhân trong việc chi trả để sở hữu thẻ BHYT hộ gia đình.
  • Thái độ đối với hành vi: Cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực của người dân về lợi ích kinh tế và tính ưu việt của BHYT khi ốm đau.
  • Chuẩn chủ quan và Kỳ vọng gia đình: Sức ép xã hội và sự định hướng từ những người có tầm ảnh hưởng như cha mẹ, người phối ngẫu, làng xóm.
  • Trách nhiệm đạo lý: Ý thức về nghĩa vụ chăm lo sức khỏe cho bản thân, gia đình và tinh thần tương thân tương ái vì cộng đồng.
  • Kiểm soát hành vi nhận thức: Mức độ thuận tiện về thủ tục, khoảng cách địa lý và khả năng tài chính sẵn có để đóng phí bảo hiểm.
  • Công tác tuyên truyền: Tác động của các kênh truyền thông chính sách đến sự hiểu biết của người dân.
       +---------------------------------------------+
       |   Thái độ đối với hành vi tham gia BHYT     |----+
       +---------------------------------------------+    |
       |   Sự quan tâm đến sức khỏe                  |----+
       +---------------------------------------------+    |
       |   Kỳ vọng của gia đình                      |----+---> [ Ý ĐỊNH THAM GIA BHYT ]
       +---------------------------------------------+    |     (Người dân huyện Sơn Hà)
       |   Trách nhiệm đạo lý                        |----+
       +---------------------------------------------+    |
       |   Kiểm soát hành vi nhận thức               |----+
       +---------------------------------------------+    |
       |   Tuyên truyền chính sách BHYT              |----+
       +---------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng qua 2 giai đoạn:

  • Nghiên cứu định tính: Tác giả tiến hành thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu 8 chuyên gia có trên 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực an sinh xã hội, gồm cán bộ giám định BHYT, chuyên viên thu tại BHXH huyện Sơn Hà và đại diện ban ngành địa phương. Bước này nhằm hiệu chỉnh 28 biến quan sát của thang đo Likert 5 điểm cho phù hợp với đặc thù văn hóa vùng cao.
  • Nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát trực tiếp thông qua bảng câu hỏi chi tiết với kích thước mẫu gồm 195 quan sát hợp lệ là người dân sinh sống tại các xã và thị trấn thuộc huyện Sơn Hà trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2021. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu qua các bước: kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và Alpha lớn hơn 0,6), phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO từ 0,5 đến 1,0; tổng phương sai trích trên 50%; Eigenvalue lớn hơn 1), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy đa biến với mức ý nghĩa kiểm định p dưới 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê và kiểm định kinh lượng cho thấy mô hình nghiên cứu có độ tương thích cao với dữ liệu thực tế:

Tên nhân tố nghiên cứu Hệ số tin cậy Cronbach's Alpha Tác động chuẩn hóa (Beta) Mức ý nghĩa thống kê (Sig.)
Sự quan tâm đến sức khỏe 0,842 0,285 0,000
Tuyên truyền chính sách 0,815 0,241 0,001
Trách nhiệm đạo lý 0,830 0,208 0,002
Thái độ đối với BHYT 0,798 0,186 0,004
Kỳ vọng của gia đình 0,785 0,154 0,012
Kiểm soát hành vi nhận thức 0,768 0,129 0,028

Mô hình hồi quy đạt hệ số R-squared hiệu chỉnh trên 52%, chứng minh 6 nhóm yếu tố trên giải thích được hơn một nửa sự biến thiên trong ý định tham gia BHYT của người dân. Cả 6 giả thuyết từ H1 đến H6 đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa 95%. Trong mẫu 195 người được khảo sát, nhóm có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng chiếm 64,1%, nhóm độ tuổi lao động chính từ 25 đến 50 tuổi chiếm 72,3%, cho thấy nhu cầu bảo vệ tài chính trước rủi ro bệnh tật là vô cùng cấp bách.

       MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BHYT
       ==============================================================
       Sự quan tâm đến sức khỏe    [████████████████████████████] Beta = 0.285
       Tuyên truyền chính sách     [████████████████████████]     Beta = 0.241
       Trách nhiệm đạo lý          [████████████████████]         Beta = 0.208
       Thái độ đối với BHYT        [██████████████████]           Beta = 0.186
       Kỳ vọng của gia đình        [███████████████]              Beta = 0.154
       Kiểm soát hành vi           [████████████]                 Beta = 0.129
       ==============================================================

Thảo luận kết quả

Dữ liệu kiểm định phân phối phần dư chuẩn hóa qua đồ thị Histogram và biểu đồ phân tán P-P Plot cho thấy đường hồi quy chuẩn không vi phạm các giả định về đa cộng tuyến (hệ số phóng đại phương sai VIF đều nhỏ hơn 2,0).

Yếu tố "Sự quan tâm đến sức khỏe" có tác động mạnh mẽ nhất (Beta = 0,285). Phát hiện này đồng nhất với kết luận trong nghiên cứu của Judith Lammers và Susan Warmerdam (2010) tại Nigeria cũng như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014) tại Nghệ An. Khi người dân nhận thức rõ nguy cơ bệnh tật có thể làm kiệt quệ kinh tế gia đình, họ chủ động tìm đến BHYT như một phương tiện phòng ngừa rủi ro.

Yếu tố "Tuyên truyền chính sách" giữ vị trí quan trọng thứ hai (Beta = 0,241). Tại một huyện miền núi như Sơn Hà, các kênh thông tin cơ sở như loa truyền thanh xã, các buổi họp thôn bản và tư vấn trực tiếp của cán bộ y tế cơ sở đóng vai trò quyết định trong việc giải thích cơ chế "đóng ít - hưởng nhiều" và quyền lợi khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến.

Đặc biệt, yếu tố "Trách nhiệm đạo lý" (Beta = 0,208) và "Kỳ vọng của gia đình" (Beta = 0,154) phản ánh nét văn hóa cộng đồng làng bản sâu sắc của người dân địa phương. Quyết định mua BHYT không đơn thuần là hành vi kinh tế cá nhân mà gắn liền với trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già, bảo vệ con nhỏ và tương trợ các hộ gia đình khó khăn khác trong xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT tại huyện Sơn Hà:

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                        HỆ THỐNG 4 GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC                            |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Đổi mới truyền thông  | Đa dạng hóa tiếng dân tộc (Hre, Cor), mục tiêu phủ 95% |
| 2. Nâng cao dịch vụ KCB  | Cải tiến thủ tục tại 14 trạm y tế, đạt 85% hài lòng    |
| 3. Chuyển đổi số & đại lý| Triển khai VssID, rút ngắn cấp thẻ dưới 2 ngày         |
| 4. Hỗ trợ tài chính      | Trích ngân sách địa phương hỗ trợ thêm 30% - 50% mức phí|
+-----------------------------------------------------------------------------------+
  1. Đổi mới và đa dạng hóa hình thức truyền thông chính sách:

    • Cơ quan thực hiện: Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Hà phối hợp với Trung tâm Truyền thông - Văn hóa - Thể thao huyện và UBND các xã.
    • Hành động cụ thể: Biên soạn tài liệu tuyên truyền ngắn gọn, phát thanh song ngữ tiếng Việt và tiếng đồng bào dân tộc thiểu số (tiếng Hre), tổ chức các hội nghị tư vấn trực tiếp tại 14 xã, thị trấn.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ tiếp cận thông tin chính sách BHYT lên 95% dân số toàn huyện trong giai đoạn 2022 - 2025.
  2. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tinh thần phục vụ:

    • Cơ quan thực hiện: Trung tâm Y tế huyện Sơn Hà và hệ thống 14 trạm y tế tuyến xã.
    • Hành động cụ thể: Đầu tư nâng cấp trang thiết bị y tế cơ bản, bảo đảm danh mục thuốc thiết yếu, giảm thời gian chờ đợi khám chữa bệnh ngoại trú xuống dưới 45 phút/lượt và nâng cao y đức của đội ngũ y bác sĩ.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng mức độ hài lòng của người bệnh tham gia BHYT lên trên 85% vào cuối năm 2023.
  3. Mở rộng mạng lưới đại lý thu và đẩy mạnh số hóa quy trình:

    • Cơ quan thực hiện: BHXH huyện Sơn Hà liên kết cùng hệ thống Bưu điện huyện và các tổ chức hội phụ nữ, hội nông dân.
    • Hành động cụ thể: Thiết lập điểm thu BHYT tại 100% các thôn bản vùng xa, hướng dẫn người dân cài đặt và sử dụng ứng dụng Bảo hiểm xã hội số (VssID) trên thiết bị di động, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục gia hạn thẻ xuống dưới 2 ngày làm việc.
    • Chỉ số mục tiêu: Phấn đấu 70% người tham gia BHYT quản lý thẻ điện tử qua ứng dụng số vào năm 2024.
  4. Thực thi chính sách trợ cấp và hỗ trợ mức đóng cho nhóm yếu thế:

    • Cơ quan thực hiện: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà phối hợp Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi.
    • Hành động cụ thể: Đề xuất trích ngân sách địa phương và huy động các quỹ xã hội hóa để hỗ trợ thêm từ 30% đến 50% mệnh giá thẻ BHYT cho các hộ gia đình nông lâm nghiệp có mức sống trung bình sau khi không còn thuộc diện hưởng trợ cấp vùng đặc biệt khó khăn.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt tỷ lệ bao phủ BHYT trên 95% dân số toàn huyện vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo chuyên môn và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Lãnh đạo và chuyên viên ngành Bảo hiểm xã hội:

    • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về hành vi tham gia BHYT tại khu vực miền núi.
    • Giúp hoạch định kế hoạch truyền thông trọng điểm, thiết kế chính sách đại lý thu và phân bổ chỉ tiêu phát triển người tham gia cho từng địa bàn cấp xã.
  2. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học:

    • Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng dịch vụ công thông qua mô hình cấu trúc TPB mở rộng.
    • Ứng dụng phương pháp định lượng thực hành trên phần mềm SPSS từ phân tích Cronbach's Alpha, EFA đến hồi quy tuyến tính bội.
  3. Cán bộ quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương:

    • Giúp UBND cấp huyện, xã xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và an sinh xã hội.
    • Đưa ra giải pháp cân đối nguồn lực ngân sách địa phương để hỗ trợ nhóm dân cư cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
  4. Các nhà quản lý cơ sở khám chữa bệnh và bệnh viện:

    • Cung cấp góc nhìn về sự kỳ vọng và mức độ hài lòng của người bệnh tham gia BHYT.
    • Giúp cải tiến quy trình đón tiếp, phân luồng bệnh nhân và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế tuyến cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

  1. Yếu tố nào giữ vai trò quyết định mạnh mẽ nhất đến ý định tham gia BHYT tại huyện Sơn Hà? Nghiên cứu định lượng chỉ ra rằng "Sự quan tâm đến sức khỏe" là yếu tố chi phối mạnh nhất với hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta = 0,285. Khi người dân nhận thức được tính khó lường của rủi ro bệnh tật và gánh nặng viện phí, mức độ sẵn lòng tham gia BHYT tăng lên rõ rệt.

  2. Tại sao quy luật "lấy số đông bù số ít" lại mang tính sống còn đối với quỹ BHYT? Theo nguyên tắc tài chính an sinh, quỹ BHYT hoạt động phi lợi nhuận nhằm phân phối lại chi phí điều trị từ người khỏe sang người ốm, từ người có thu nhập cao sang người thu nhập thấp. Nếu tỷ lệ bao phủ không đạt trên 90% dân số, quỹ sẽ đối mặt với nguy cơ mất cân đối thu chi do hiện tượng lựa chọn bất lợi.

  3. Mẫu khảo sát 195 quan sát có đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy khoa học không? Cỡ mẫu 195 hoàn toàn đáp ứng các quy chuẩn phương pháp luận EFA của Hair và cộng sự (tỷ lệ tối thiểu 5 quan sát cho 1 biến đo lường, với mô hình gồm 28 biến quan sát). Đồng thời, các kiểm định KMO = 0,782 và Bartlett's test đều đạt mức ý nghĩa p = 0,000, khẳng định tập dữ liệu hoàn toàn phù hợp để phân tích hồi quy.

  4. Mô hình lý thuyết TPB được tác giả hiệu chỉnh và mở rộng như thế nào? Bên cạnh 3 thành phần truyền thống của TPB (Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi), tác giả đã bổ sung thêm 3 biến ngoại sinh đặc thù gồm "Sự quan tâm đến sức khỏe", "Trách nhiệm đạo lý" và "Tuyên truyền chính sách", giúp gia tăng độ giải thích của mô hình lên trên 52%.

  5. Người dân tham gia BHYT hộ gia đình được hưởng chính sách giảm trừ mức đóng như thế nào? Theo quy định hiện hành của Luật BHYT, khi tham gia theo hộ gia đình, người thứ nhất đóng 100% mức quy định, người thứ hai đóng 70%, người thứ ba đóng 60%, người thứ tư đóng 50% và từ người thứ năm trở đi chỉ đóng 40% mức đóng của người thứ nhất.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định và lượng hóa thành công 6 yếu tố tác động cùng chiều đến ý định tham gia BHYT của người dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi với mức độ ảnh hưởng giảm dần: Sự quan tâm đến sức khỏe (Beta = 0,285), Tuyên truyền (Beta = 0,241), Trách nhiệm đạo lý (Beta = 0,208), Thái độ (Beta = 0,186), Kỳ vọng gia đình (Beta = 0,154) và Kiểm soát hành vi (Beta = 0,129).
  • Đóng góp học thuật quan trọng của đề tài là mở rộng thành công khung lý thuyết TPB khi bổ sung yếu tố trách nhiệm đạo lý và công tác truyền thông đặc thù cho vùng đồng bào miền núi.
  • Cung cấp hệ thống 4 nhóm khuyến nghị chính sách có tính ứng dụng cao cho ngành BHXH và chính quyền địa phương, từ khâu tuyên truyền đa ngữ, nâng cấp y tế cơ sở đến chính sách trợ giá mức đóng.
  • Lộ trình hành động đề xuất giai đoạn 2022 - 2025 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ BHYT huyện Sơn Hà đạt trên 95%, đảm bảo 100% trạm y tế xã đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh BHYT chất lượng cao.
  • Tham gia Bảo hiểm y tế là quyền lợi gắn liền với nghĩa vụ công dân; việc mở rộng diện bao phủ BHYT chính là nền tảng vững chắc nhất để kiến tạo một xã hội công bằng, khỏe mạnh và phát triển bền vững.