Mở đầu. Trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này nêu một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, trình bày các lý thuyết về làng nghề, những khó khăn yếu kém của làng nghề và tổng quan các nghiên cứu trước.
Chương 3: Thực trạng các làng nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh. Chương này giới thiệu về thực trạng các làng nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh. Chương 4: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 5: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ tiến hành phân tích kết quả từ mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp của hộ gia đình tỉnh Trà Vinh. Thực hiện các kiểm định cần thiết của mô hình nghiên cứu. Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động đến việc không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
4 Chương 6: Kết luận và khuyến nghị. Chương này tổng kết lại những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị góp phần hạn chế việc không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp của hộ gia đình tỉnh Trà Vinh. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về ngành tiểu thủ công nghiệp, về làng nghề, phân loại làng nghề, các loại hình sản xuất làng nghề và vai trò của làng nghề, những khó khăn, yếu kém của làng nghề, tổng quan các nghiên cứu trước.
Trên cơ sở đó xác định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp của hộ gia đình tỉnh Trà Vinh. Khái niệm chung 2. Khái niệm về ngành tiểu thủ công nghiệp Ngành tiểu thủ công nghiệp có nền tảng cơ bản là ngành nghề thủ công, ở đó hệ thống công cụ lao động thô sơ đã được cải tiến và thay thế một phần bằng máy móc mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ. Nó bao gồm các hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, có trang bị máy móc hoặc thủ công (Hoàng Văn Xô, 2000).
Theo Quyết định số 85/2006/QĐ-UBND ngày 30/11/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định ngành tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực sản xuất bao gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ. Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành. Nghề thủ công là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay.
Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên, công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản. Theo Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ quy định sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn bao gồm: chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Khái niệm về cư dân và hộ gia đình Cư dân là cộng đồng người sinh sống được xác định trên cơ sở của các yếu tố lịch sử, địa lý, quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, lao động sản xuất, nếp sống sinh hoạt, 6 phong tục tập quán, các mối quan hệ gia đình, làng xóm, giữa các nhóm và tầng lớp xã hội trong những nét khái quát và tương đồng về văn hóa, giá trị (Lênin, 1997, trích bởi Nguyễn Ngọc Anh, 2014). Hộ gia đình là nhóm những người thường có quan hệ gia đình hoặc đôi khi không có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng sống chung, cùng sở hữu chung về tài sản và các tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ (Nguyễn Đức Truyến, 2003).
Khái niệm về làng nghề “Làng nghề” hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau, song có thể hiểu làng nghề với những quan niệm như sau: Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Thông tư cũng chỉ rõ, làng được công nhận là làng nghề phải đạt 03 tiêu chí sau: một là, làng phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hai là, làng phải hoạt động sản xuất - kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; ba là, làng phải chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo Trần Minh Yến (2004) cho rằng: Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành yếu tố làng nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế - xã hội và văn hóa. Khái niệm về không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp Hiện nay, chưa có tài liệu đưa ra chính xác khái niệm “không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp”.
Tuy nhiên, theo từ điển tiếng việt có đưa ra một số khái niệm như sau: Tham gia: là góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động chung nào đó. Không tiếp tục: là ngừng hẳn lại, chấm dứt hẳn, không tiếp tục làm việc gì đó nữa. 7 Hoạt động: là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định. Như vậy từ các khái niệm trên, có thể hiểu “không tiếp tục tham gia hoạt động làng nghề tiểu thủ công nghiệp” là việc chấm dứt, không tiếp tục góp phần hoạt động của mình vào hoạt động chung của làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
Phân loại làng nghề Theo Trần Minh Yến (2004) cho rằng làng nghề truyền thống có các cách phân loại khác nhau: - Phân loại theo trình độ kỹ thuật: Là làng nghề có trình độ kỹ thuật đơn giản như đan lát, chế biến lương thực thực phẩm, làm gạch nung vôi. Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cung tự cấp. Nghề có kỹ thuật phức tạp như kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, dệt lụa, thêu, sơn mài. Các nghề này không những đòi hỏi kỹ thuật phức tạp mà còn thể hiện sự sáng tạo và khéo léo.
Sản phẩm vừa có giá trị kinh tế cao vừa có giá trị nghệ thuật cao, sản phẩm không những tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. - Phân loại theo số lượng làng nghề: làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một nghề thủ công duy nhất; làng nhiều nghề là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc nhiều nghề khác. - Phân loại theo tính chất nghề: làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và tồn tại đến ngày nay; làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc do nhập từ các địa phương khác. Một số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho đi học ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho dân địa phương mình.
Các loại hình sản xuất làng nghề Trong lịch sử phát triển làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình. Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, các làng nghề truyền thống cũng đã có sự thay đổi để phát triển cùng thời đại. Ngày càng có nhiều làng nghề đang chuyển đổi từ sản xuất các sản phẩm thô sơ, cổ truyền, mang đậm sắc thái văn hóa, tinh thần sang các sản phẩm tinh xảo, hiện đại hơn hoặc thậm chí sản xuất các sản phẩm hoàn toàn mới. Quy trình sản xuất 8 trong các làng nghề này đều đã được cơ khí hóa bằng các máy móc phức tạp.
Đồng thời, tùy theo quy mô về lao động, người dân làng nghề cũng đã phát triển thành các loại hình lao động, làng nghề khác nhau nhằm đáp ứng thị trường sản xuất. Theo Trần Minh Yến (2004), làng nghề có các loại như sau: - Hộ gia đình: Là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các làng nghề truyền thống. Hộ gia đình vừa là đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế và vừa là một đơn vị sinh hoạt. Các thành viên trong gia đình đều có chung một cơ sở kinh tế, có chung một sở hữu đối với tài sản dùng cho sinh hoạt và đối với tư liệu sản xuất.
Lao động trong phạm vi gia đình với mục đích không phải để lấy tiền công mà để đóng góp phần của mình vào sản lượng chung của gia đình. Mỗi thành viên trong gia đình đều có trách nhiệm đối với cơ sở kinh tế ấy và làm cho nó tăng dần lên bằng lao động của mình. Thành quả lao động chung của gia đình thể hiện qua tổng số thu nhập đều được tiêu dùng chung. Gia đình cũng là một đơn vị tổ chức lao động.
Ở đó người chủ hộ đòng thời là người thợ giỏi, nắm quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc từ phân công lao động đến phân phối thu nhập. - Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện số hộ gia đình với nhau để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó. Hợp tác là phương thức tất yếu trong lao động và sản xuất. Bởi lẽ khi mà quy mô hộ gia đình đã vượt qua giới hạn thì sẽ có những mặt hạn chế thiếu vốn, khả năng ứng dụng công nghệ, thị trường tiêu thụ.