Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Chương 2: Thực trạng và đo lường yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị vận dụng tác động của các yếu tố nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa và khái niệm về tỷ suất sinh lợi, tỷ suất sinh lợi là khái niệm được sử dụng cho nhiều tình hình khác nhau trong kinh tế học, nói về những khoản tiền thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra lãi hay số chi phí đã tiêu hao để sinh ra lãi. Tỷ suất sinh lợi được biểu hiện bằng: Tỷ suất sinh lợi của vốn, tỷ suất sinh lợi của giá thành…; Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ để tạo ra các khoản lợi nhuận cho doanh nghiệp; “Tỷ số sinh lợi là chỉ số đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần” (Trần Trọng Thơ, 2007, 128). Từ những nội dung trên tác giả đúc kết tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là: khoản lãi thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra khoản lãi đó hay chi phí đã tiêu hao để sinh ra khoản lãi đó. Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng được biểu hiện bằng: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên… 1.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA ROA = Lợi nhuận ròng /Tổng tài sản bình quân ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng.
ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Hiệu 2 quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA, ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE ROE = Lợi nhuận ròng /Vốn cổ chủ sở hữu bình quân ROE đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Các ngân hàng có xu hướng sử dụng đòn bẩy cao, do đó họ thường đạt ROE cao nhưng ROA thấp.
ROE cũng có thể tính bằng cách nhân ROA với tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu. Cả hai tỷ số ROA và ROE đều là tiêu chí quan trọng đối với cơ quan quản lý, các ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc đưa ra các quyết định chiến lược trong quản lý và đầu tư phù hợp. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM NIM = Thu nhập lãi thuần /Tài sản sinh lãi Tài sản sinh lãi = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi lại các TCTC khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng Tỷ lệ lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
Tỷ lệ này chỉ ra 3 năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng chi phí. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên NNIM NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) /Tài sản sinh lãi Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng). Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lợi được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau. Để xác định các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đa số các tác giả nước ngoài cũng như trong nước thường đo lường bằng hai chỉ tiêu là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân (ROA) và lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) vì ưu điểm của chỉ số ROA và ROE là tương đối đơn giản, dễ tính toán và mang tính tổng quát cao so với các chỉ số khác.
Trong bài luận văn này tác giả sẽ lấy hai chỉ số ROA và ROE để làm biến phụ thuộc đại diện cho tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lợi Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thường được đo bằng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), chúng bị tác động bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố tác động bên trong bao gồm các biến đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng… Các biến bên ngoài bao gồm các biến vĩ mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng như: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá… 1.1 Các yếu tố bên trong 4 1.1 Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng được thể hiện thông qua tổng tài sản hoặc tổng nguồn vốn của ngân hàng. Quy mô ngân hàng là một yếu tố nội tại quyết định tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Bởi vì trên thực tế các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng kinh doanh của mình bằng cách tăng tổng tài sản và nguồn vốn.
Các ngân hàng lớn có thể đạt được lợi thế quy mô từ đó làm gia tăng lợi nhuận, với lợi thế về quy mô, nổi tiếng nên các ngân hàng quy mô lớn dễ tiếp cận và huy động vốn, dễ phát hành các chứng khoán hơn. Mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Anper và Anbar (2011). Mặt khác, tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa. Các ngân hàng tận dụng lợi thế của đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nó cũng có thể làm giảm tỷ suất lợi nhuận, quy mô lớn cũng kéo theo chi phí vận hành và các chi phí khác cao hơn.
Theo Eichengreen và Gibson (2001) đề xuất rằng sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác động cùng chiều lên lợi nhuận đến một mức độ nhất định nào đó.2 Quy mô vốn chủ sở hữu Theo Short (1979) thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của một ngân hàng gắn liền với quy mô của nó bởi vì các ngân hàng lớn có xu hướng tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với ngân hàng nhỏ dựa vào khả năng huy động vốn ít tốn kém hơn. Thực tế cho thấy các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao, quản trị vốn tốt, duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay có thể cải thiện tỷ suất sinh lợi. Tỷ số này quá cao cũng cho thấy ngân hàng chưa sử dụng tốt đòn bẩy tài chính. Bài nghiên cứu của Sharma và Gounder (2012) cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất sinh lợi là không thể dự đoán được.3 Tiền gửi khách hàng 5 Đặc thù của các ngân hàng là sử dụng đòn bẩy tài chính cao, và chức năng chính của ngân hàng là trung gian tài chính đóng vai trò luân chuyển nguồn vốn từ nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu nguồn vốn, vì thế nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng.
Ponce (2012) cho rằng sự gia tăng tiền gửi của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng chủ động trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu vào cho ngân hàng từ đó có thể gia tăng dư nợ và đầu tư vào các kênh khác nhau làm gia tăng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.4 Dƣ nợ tín dụng Dư nợ tín dụng cao rõ ràng lợi nhuận thu về từ việc cho vay sẽ cao hơn nếu kiểm soát rủi ro tín dụng tốt. Sufian và Habibullah (2009) đã nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng của Bangladesh và đã cho thấy rằng mối quan hệ cùng chiều giữa việc gia tăng dư nợ tín dụng và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Bangladesh. Nghiên cứu còn cho thấy việc gia tăng dư nợ còn có các tác động tích cực khác là chiếm lĩnh thị phần, gia tăng sự nhận biết của khách hàng về ngân hàng. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thì việc gia tăng thị phần phải đi đôi với việc quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả.5 Rủi ro tín dụng Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho rằng rủi ro tín dụng là một trong những biến số quan trọng trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.