CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Tại Việt Nam, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giữ vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ trong việc hoạch định chiến lược, chủ trương, xây dựng các chính sách, kế hoạch và chỉ ra các bước đi, tìm ra các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Đồng thời đây cũng là lực lượng chính trực tiếp phục vụ nhân dân, là lực lượng đưa các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào hiện thực đời sống. Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Đảng và Chính phủ đã và đang triển khai các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ này trở thành lực lượng tinh anh, có khả năng phục vụ người dân ngày càng tốt hơn. Chủ yếu các giải pháp tập trung 03 hướng chính: tinh giảm biên chế; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; và các chính sách giữ chân người tài.
Cụ thể như sau: Nghị định 132, dự thảo nghị định tinh giảm biên chế giai đoạn từ nay đến năm 2020; các chính sách đào tạo về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; đổi mới cách thi tuyển công chức, viên chức; một số địa phương xây dựng được các chính sách thu hút và giữ chân người tài….Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, các giải pháp này đang từng bước phát huy tác dụng tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đạt yêu cầu đặt ra và đặc biệt vẫn xảy ra tình trạng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư nhân. Giai đoạn 2005-2007 cả nước có hơn 16.000 công chức, viên chức nghỉ việc (số liệu Bộ Nội Vụ). Giai đoạn 2006 – 2011, riêng tỉnh Lâm Đồng có 27841 cán bộ công chức, và có 417 công chức – viên chức xin nghỉ việc (theo số liệu Sở Nội Vụ), chiếm tỉ lệ 3%. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng ổn định, tinh anh, có khả năng đáp ứng yêu cầu đặt ra trong thời kỳ mới.
Vậy làm thế nào để giữ chân được những người thực sự có năng lực tiếp tục cống hiến cho khu vực công? Đây là câu hỏi mà từ lâu nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đi tìm đáp án. Trong thời gian qua, cũng đã có một số nghiên cứu để đi tìm đáp án cho câu hỏi trên, cụ thể như: Đo lường mức đọ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện 2 của Việt Nam (Trần Kim Dung, (2005)); phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó lâu dài của nhân viên trẻ với doanh nghiệp (Đỗ Phú Trần Tình và cộng sự, (2012)); các yếu tố ảnh hưởng đến dự định nghỉ việc của công chức, viên chức nhà nước (Võ Quốc Hưng, Cao Hào Thi (2010))… Kết quả của các nghiên cứu này mới chỉ phản ánh được bức tranh chung của Việt Nam và một số ít địa phương. Do vậy nếu đem kết quả này áp dụng thẳng vào điều kiện thực tế tại tỉnh Lâm Đồng chưa chắc phát huy được tác dụng. Vậy làm thế nào để Lâm Đồng có thể giữ chân được đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của mình không chảy máu sang khu vực tư nhân hoặc chuyển đến các thành phố lớn? Thực tế, lãnh đạo cũng như các cơ quan nhà nước tỉnh Lâm Đồng rất cần một tài liệu tham khảo để có thể đưa ra các chính sách về nhân sự hiệu quả.
Đó là lý do tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của công chức - viên chức Tỉnh Lâm Đồng”.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài xác định các mục tiêu cụ thể sau đây: - Xác định các yếu tố chính tác động đến sự gắn bó của công chức – viên chức Tỉnh. - Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên đến sự gắn bó của công chức- viên chức làm việc trên địa bàn Tỉnh.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: công chức - viên chức làm việc trên địa bàn Tỉnh Lâm Đồng. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu này chỉ nằm trong việc khảo sát những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự gắn bó của công chức – viên chức Tỉnh Lâm Đồng, không tính đến những yếu tố bất khả kháng như là phải theo gia đình đi xa, bị đau ốm bệnh tật, gia đình có việc riêng.4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU Kết quả của nghiên cứu này là nguồn tham khảo nhằm: - Giúp các cấp lãnh đạo nắm được tình hình cán bộ công chức – viên chức làm việc trên địa bàn Tỉnh Lâm Đồng, qua đó có những chính sách phù hợp trong quản lý nhân sự. - Các nhà hoạch định chính sách nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước, các đơn vị tuyển dụng, nhất là Sở Nội Vụ có cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ tốt hơn.
3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm công chức – viên chức Nhà nước Công chức (chi tiết theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP): là những người được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán.); trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các cơ quan Đảng; văn phòng Chủ tịch nước, văn phòng Quốc hội, kiểm toán Nhà nước; trong các bộ và cơ quan ngang bộ; tòa án nhân dân các cấp (phó chánh án tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); viện kiểm sát nhân dân; tổ chức chính trị - xã hội (mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổng liên đoàn lao động Việt Nam, hội nông dân, đoàn thanh niên.); trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ. như bác sĩ, giáo viên, giảng viên đại học.2 Sự gắn bó của nhân viên Sự gắn bó của nhân viên là sự gắn kết của nhân viên, sự tham gia, sự thỏa mãn, lòng nhiệt tình của cá nhân với công việc của mình. (Stephen và cộng sự, (2012), Organizational Behavior, pp.87) Ý thức gắn bó tổ chức của nhân viên thể hiện thông qua ba tiêu thức (Trần Kim Dung, (2011), quản trị nguồn nhân lực,pp.359) 4 - Nổ lực, cố gắng của nhân viên đối với công việc: Nhân viên trong tổ chức nổ lực hết mình nâng cao kỹ năng để có thể cống hiến nhiều hơn cho công việc; và sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân khi cần thiết để giúp đỡ nhóm, tổ chức làm việc thành công.
- Niềm tự hào, yêu mến công ty, tổ chức: Nhân viên yêu mến, tự hào về công ty, tổ chức; coi tổ chức là nơi tốt nhất để làm việc. - Trung thành với tổ chức: Nhân viên có ý định ở lại dài lâu cùng tổ chức; sẽ ở lại cùng tổ chức mặc dù có nơi khác có lời đề nghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn.3 Sự hài lòng của công việc và gắn bó của nhân viên với tổ chức Sự hài lòng của công việc là những đánh giá dựa trên những nhận thức tình cảm của nhân viên về niềm tin và cảm xúc tích cực của họ đối với công việc đó (Slack & cộng sự, 2010, pp. Sự gắn bó của nhân viên với tổ chức được thể hiện ở hai khía cạnh: + Gắn bó hành vi: cá nhân mong muốn sẽ nhận được phần thưởng từ tổ chức hay ngược lại là thực hiện nghĩa vụ của mình với tổ chức đó theo cách“một người tự trói buộc mình bằng chính hành động của anh ta” (Mowday & cộng sự, 1979, pp.225) + Gắn bó thái độ: là sức mạnh tương đồng về sự thống nhất của nhân viên với tổ chức và sự tham gia tích cực của nhân viên trong một tổ chức nhất định (Porter & cộng sự, 1974, pp. Sự gắn bó xuất hiện và phát triển chậm nhưng chắc chắn theo thời gian khi cá nhân đó suy nghĩ về mối quan hệ giữa họ với tổ chức.
Ngược lại, sự hài lòng công việc là một thước đo không bền vững theo thời gian, nó phản ánh những hành vi tức thời đối với các vấn đề cụ thể như: lương, thưởng, giám sát (Mowday & cộng sự, 1979, pp. Vì thế sự hài lòng thường được đo lường cùng với sự gắn bó (Slack & cộng sự, 2010, tr.4 Sự thỏa mãn Sự thỏa mãn trong công việc là thái độ của các nhân viên về công việc của họ. Nó hình thành từ nhận thức của họ về công việc. Gibson - Organizations Behavior, Structure, Processes – pp.696) Theo nghiên cứu của Trần Kim Dung, (2005) về “Đo lường mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện của Việt Nam” cho rằng sự thỏa mãn công việc phụ thuộc vào các yếu tố như bản chất công việc, cơ hội đào tạo, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương, phúc lợi và điều kiện làm việc.
Theo nghiên cứu của Ting Yuan, (1997) “Xác định các yếu tố thỏa mãn công việc của nhân viên chính phủ Liên Bang” cho rằng sự thỏa mãn công việc bao gồm ba nhóm chính là: Đặc điểm tổ chức bao gồm các yếu tố là lòng trung thành với tổ chức, mối quan hệ với đồng nghiệp và cấp trên. Đặc điểm cá nhân bao gồm các yếu tố là tinh thần vì việc công, tuổi, giáo dục và giới tính. Nhóm cuối cùng là đặc điểm công việc được đánh giá qua các yếu tố là thỏa mãn tiền lương và phát triển nghề nghiệp, nhiệm vụ rõ ràng, sử dụng kỹ năng và ý nghĩa của nhiệm vụ.2 Các mô hình nghiên cứu trước đây 2.1 Mô hình nghiên cứu của The Recruitment Communications Company, (2002) Mô hình của Công ty Recruitment Communications, (2002) được trích bởi Pendulwa, (2011) đã cho rằng có ba yếu tố để xác định một tổ chức “khả năng thu hút và giữ chân nhân viên”. Mô hình này được hiển thị trong Hình 2.