Chương 1 đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, các phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục của bài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Thương mại di động Thương mại di động (Mobile commerce, M-commerce) là việc sử dụng thiết bị không dây chẳng hạn như điện thoại thông minh cùng một số mạng lưới không dây có thể truy cập thông tin và tiến hành các giao dịch có sự gia tăng giá trị trong trao đổi thông tin, dịch vụ, hàng hóa (Sadi và Noordin, 2011).
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ mật thiết giữa TMĐT và TMDĐ. TMDĐ có thể hiểu là TMĐT trên nền tảng thiết bị di động và là tập hợp con của TMĐT (Ngai & Gunasekaran, 2007). Ngày nay, TMDĐ được thực hiện qua các thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính bảng, các thiết bị không dây khác bằng cách kết nối với mạng viễn thông không dây và công nghệ TMĐT có dây khác. Cùng với sự bùng nổ công nghệ và các ứng dụng TMDĐ, nhiều tổ chức doanh nghiệp đã tập trung và chi mạnh tay để đầu tư và phát triển các công nghệ này.
Dịch vụ TMDĐ được các nhà nghiên cứu phân loại theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo Mahatanankoon (2005), Ngai & Gunasekaran (2007), dịch vụ TMDĐ được cấu thành bởi 4 yếu tố: dịch vụ thông tin (sử dụng thiết bị di động để tìm kiếm thông tin), dịch vụ giao dịch B2C, dịch vụ dựa trên địa điểm và dịch vụ giải trí. Tuy nhiên dịch vụ của TMDĐ có phạm vi rất rộng bao gồm cả chuyển tiền di động, ATM di động, dịch vụ định vị, mua hàng di động, thanh toán phí, …. Bài nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu thanh toán phí trên thiết bị di động.
Sự chấp nhận công nghệ Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc các cá nhân chấp nhận sự đổi mới hay một công nghệ mới nào đó. Các nghiên cứu này sử dụng rộng rãi các mô hình nền tảng về hành vi và ý định chẳng hạn như Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajen, 1991), Thuyết hành động có lý do (TRA) (Fishbein & Ajzen, 1975), Lý thuyết nhận thức xã hội (SCT) liên quan đến các xu hướng đổi mới như Thuyết khuếch tán đổi mới (IDT) và cuối cùng không thể thiếu chính là các mô hình nghiên cứu liên quan đến chấp nhận công nghệ của người dùng như mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis, 1989), TAM2 (Venkatesh & Davis, 2000) và Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) ( Venkatesh, Morris, Davis, 2003). 7 Chấp nhận thanh toán bằng ví điện tử trên ĐTTM được hiểu là ý định sử dụng của người dùng hiện tại hoặc có ý định tiếp tục sử dụng trong tương lai. Thanh toán bằng điện thoại thông minh Thanh toán bằng ví điện tử trên ĐTTM là sự ủy quyền và hoàn thành giao dịch tài chính thông qua thiết bị di động (Mallat, 2007) Sử dụng điện thoại thông minh để chi trả các hàng hóa, dịch vụ được gọi là thanh toán di động.
Thay vì thanh toán bằng tiền mặt, séc hoặc thẻ tín dụng, người tiêu dùng có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho một loạt các dịch vụ và hàng hóa kỹ thuật số chỉ với vài thao tác chạm tay. Việc sử dụng rộng rãi điện thoại di động phù hợp cho việc thanh toán di động cung cấp nền tảng cho khách hàng giao dịch không dùng tiền mặt (Pham & Ho, 2015), giao dịch nhanh chóng và thuận tiện (Teo, Tan, Ooi, Hew & Yew,2015) và các giao dịch an toàn với lượng tiền lớn (Leong, Hew, Tan & Ooi, 2013). Thanh toán di động có thể thực hiện ở mọi lúc mọi nơi. Lợi ích có thể thấy ngay ở thanh toán di động đó là việc hạn chế mang theo ví hay thẻ vật lý.
Việc không phải động đến ví tiền giúp tiết kiệm thời gian mà người khác cũng không thể thấy trong ví bạn có những gì. Touch ID, mã PIN hay vân tay giúp thanh toán di động an toàn hơn thẻ vật lý. Trong trường hợp bị mất điện thoại hay bỏ quên, thông tin thanh toán của bạn vẫn sẽ an toàn. Đối với khách hàng thanh toán phí bằng điện thoại thông minh giúp thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng tiện lợi hơn, tiết kiệm chi phí và thời gian giao dịch.
Đối với doanh nghiệp, thanh toán phí bằng điện thoại thông minh giúp mở rộng mạng lưới tiếp cận tới khách hàng, giảm thiểu chi phí nhân sự và chi phí mở rộng chi nhánh 2. Các hình thức thanh toán trên điện thoại thông minh Ví điện tử Ví điện tử hay còn gọi là ví tiền online hay ví số có tính năng thanh toán trực tuyến các hoá đơn, dịch vụ phổ biến hiện nay như thanh toán hóa đơn điện nước, chuyển tiền qua số điện thoại,… một cách nhanh chóng, tiện lợi và tiết kiệm. Để sử dụng ví điện tử là bạn phải liên kết ví với tài khoản ngân hàng sau đó nạp tiền và thực hiện thanh toán các giao dịch. Hệ sinh thái cho dịch vụ ví điện tử về bản chất gồm 3 yếu tố chính: Mạng lưới nhà cung cấp dịch vụ; Người dùng; Nền tảng công nghệ để kết nối.
Trong đó, khách hàng (người tiêu dùng) luôn được coi có vị trí trung tâm. Các nhà cung cấp dịch vụ ví điện tử sẽ hợp tác với ngân hàng để quản lý tiền của khách hàng sử dụng và thông qua 8 kết nối này, ngân hàng sẽ giảm sự quản lý các giao dịch thanh toán từ thẻ khách hàng bởi các giao dịch này sẽ do nhà cung cấp ví điện tử quản lý. Thanh toán bằng ví điện tử sẽ làm giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần ổn định lạm phát. QR (Quick Response) code Thanh toán QR Code là cách bạn sử dụng smartphone (điện thoại thông minh) có chức năng chụp ảnh (camera) với ứng dụng chuyên biệt để quét mã vạch.
Bạn chỉ cần có một chiếc điện thoại được trang bị camera là bạn có thể thực hiện tính năng thanh toán này mà không cần phải dùng đến tiền mặt hay thẻ ATM. Bạn chỉ cần quét mã QR và nhập số tiền cần thanh toán là xong. Mobile Banking Mobile Banking là hình thức phổ biến để chuyển tiền giữa các tài khoản ngân hàng. Đặc biệt nhanh chóng và tiện lợi.
Ngoài ra chúng ta cũng có thể thanh toán điện nước, internet, … thông qua Mobile Banking. Hiện nay thì tất cả các ngân hàng đều cung cấp các app mobile cho người dùng sử dụng. Bài nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến hình thức thanh toán qua ví điện tử trên ĐTTM. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, đến năm 1975 được Ajzen và Fishbein xây dựng và hiệu chỉnh lại.
Theo TRA, yếu tố quan trọng nhất dùng để dự đoán hành vi tiêu dùng đó chính là quyết định hành vi. Theo thuyết này, các cá nhân có cơ sở và động lực trong quá trình ra quyết định của mình và đưa ra sự lựa chọn hợp lý nhất để phán đoán hành vi và ý định hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi của mình. Yếu tố này bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ và ảnh hưởng của xã hội.1 Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 2. Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Thuyết hành vi có kế hoạch – TPB (Theory of Planned Behavior) được phát triển từ Thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein,1975).
Thuyết này tạo ra từ hạn chế của lý thuyết trước về giả định cho rằng hành vi là dưới sự kiểm soát của ý chí. Tác giả Ajzen cho rằng ý định thực hiện hành vi bị ảnh hưởng bởi ba nhân tố, đó là thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và bổ sung thêm yếu tố nhận thức về kiểm soát hành vi. Nhận thức về sự kiểm soát: đây là nhận thức về những nguồn lực sẵn có và khả năng nắm bắt thời cơ khi thực hiện một hành vi cụ thể.2 Mô hình thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Nguồn: Ajzen, 1991 10 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – Mô hình TAM) do tác giả Davis phát triển dựa trên lý thuyết về hành động hợp lý TRA của Ajzen vào năm 1986.
Thuyết này nhằm mục đích dự đoán khả năng chấp nhận một công cụ và tìm ra các sửa đổi phải được đưa vào hệ thống để làm cho người tiêu dùng chấp nhận nó. Theo mô hình này, khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin được xác định bởi hai yếu tố chính đó là nhận thức về tính hữu ích (perceived usefulness) và nhận thức về tính dễ sử dụng (perceived ease of use). Thái độ hướng đến việc sử dụng là thái độ của người tiêu dùng được tạo bởi sự tin tưởng về tính hữu ích và dễ sử dụng của hệ thống công nghệ thông tin. Biến bên ngoài là các biến ảnh hưởng đến nhận thức về sự hữu ích và tính dễ sử dụng Hình 2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Nguồn: Davis, 1986 2.
Mô hình chấp nhận công nghệ UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) Mô hình lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được xây dựng bởi Venkatesh (2003). Mô hình UTAUT được xây dựng với 4 yếu tố cốt lõi đóng vai trò ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chấp nhận và sử dụng của người tiêu dùng, bao gồm: Tính hữu ích, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi. Mô hình này được nhìn nhận là tích hợp các yếu tố thiết yếu của các mô hình khác, xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng và hành vi sử dụng có sự phân biệt bởi các yếu tố ngoại vi (giới tính, trình độ, tuổi, kinh nghiệm, sự tự nguyện) (Venkatesh and Zhang,2010).4 Mô hình chấp nhận công nghệ (UTAUT) Nguồn: Venkatesh, 2003 2. Một số nghiên cứu trước có liên quan 2.
Nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Rakhi Thakur (2013) Một nghiên cứu của tác giả Rakhi Thakur (2013) về “Sự chấp nhận của khách hàng đối với các dịch vụ thanh toán di động trên hai thành phố ở Ấn Độ: Một nghiên cứu thực nghiệm sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ đã sửa đổi”. Mục đích của bài nghiên cứu này là điều tra các yếu tố liên quan đến việc người tiêu dùng chấp nhận một cải tiến công nghệ mới, cụ thể là dịch vụ thanh toán di động.