Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (Phương pháp nghiên cứu, xây dựng thang đo sơ bộ, thu thập dữ liệu và phương pháp xử lý số liệu) Chương 4: Kết quả nghiên cứu (Phương pháp phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu) Chương 5: Kết luận và kiến nghị (Thảo luận kết quả nghiên cứu, đóng góp các hàm ý quản lý , các hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo) TÓM TẮT CHƯƠNG: Công nghệ ngày nay đang ngày càng phát triển nhanh chóng, sản phẩm số đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các hoạt động hàng ngày của con người như công việc, học tập và giải trí. Tuy nhiên vi phạm bản quyền số là một vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp số nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi cá nhân vi phạm bản quyền số, kiểm định mô hình đề xuất trong bối cảnh kinh tế-xã hội Việt Nam sẽ giúp đưa ra các hàm ý quản lý, giúp làm giảm vi phạm và nâng cao hiệu quả kinh doanh. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương 2 của nghiên cứu sẽ tập trung vào các cơ sở lý thuyết nền, các mô hình trong các nghiên cứu trước về vi phạm bản quyền số.
Qua đó tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi vi phạm, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu liên quan. Sở hữu trí tuệ và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ Tài sản trí tuệ là tất cả các sản phẩm trí tuệ có thể được sở hữu hợp pháp thông qua hoạt động tự sáng tạo, đầu tư để sáng tạo, mua lại, nhận chuyển giao hoặc được biếu, tặng, trao đổi; Tài sản trí tuệ bao gồm các đối tượng sở hữu trí tuệ, các quyền sở hữu trí tuệ đã xác lập, các mối quan hệ, và các tài sản vô hình khác. Quyền sở hữu trí tuệ giúp khẳng định các tài sản trí tuệ thuộc về cá nhân/tổ chức nào (Phạm, 2016). Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam năm 2005, có 14 đối tượng được bảo hộ bởi Luật sở hữu trí tuệ, được chia thành 3 nhóm: Quyền tác giả và quyền liên quan, Quyền sở hữu công nghiệp và Quyền sở hữu giống cây trồng.
Theo đó 3 cơ quan quản lý nhà nước phụ trách 3 nhóm quyền này là: Cục bản quyền tác giả (Bộ VH-TT-DL), Cục sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN), Cục trồng trọt (Bộ NN&PTNT). Bản quyền số thuộc về nhóm Quyền tác giả và quyền liên quan, những sản phẩm ở dưới dạng kỹ thuật số, như: âm nhạc, phim, video, sách/báo điện tử, phần mềm. Sản phẩm nội dung số: Theo định nghĩa được ghi trong Nghị định Số 71/2007/NĐ-CP, sản phẩm nội dung số là: “sản phẩm nội dung, thông tin bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng. Trong phạm vi bài nghiên cứu này các sản phẩm số bao gồm: phần mềm cá nhân hoặc hình ảnh, phim ảnh số, nhạc số và các tài liệu dạng số được cài đặt trên máy tính hoặc thiết bị thông minh cầm tay mục đích phục vụ cho nhu cầu 6 công việc cá nhân cũng như giải trí của người sử dụng, không bao gồm mục đích kinh doanh.
Vi phạm bản quyền số là một hình thức của vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ và đây là vi phạm của cá nhân liên quan chủ yếu về bản quyền tác giả, bao gồm các hành vi bẻ khoá, sử dụng phần mềm đã bẻ khoá và khuyến khích người khác sử dụng/chia sẻ các sản phẩm số vi phạm bản quyền. Lý thuyết hoạch định hành vi (TPB) Lý thuyết TPB được mở rộng và phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA). Hai yếu tố chính trong TRA ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan. Trong đó, thái độ (Attitude) của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó, và chuẩn chủ quan (Subjective Norms) đo lường bằng nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi.
Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr. TPB được trình bày theo hình. Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.1: Thuyết hành vi hoạch định (TPB) Nguồn: Ajzen I, The theory of planned behaviour, 1991, tr.182 7 Ajzen (1991) định nghĩa thái độ là “mức độ mà một đánh giá hoặc thẩm định hành vi trong câu hỏi là có lợi hay bất lợi”. Chuẩn chủ quan là “nhận thức của cá nhân mà hầu hết những người quan trọng nghĩ rằng cá nhân đó nên hay không nên thực hiện các hành vi trong câu hỏi”.
Nhận thức kiểm soát hành vi là “mức độ mà một cá nhân cảm thấy rằng việc thực hiện hoặc không thực hiện các hành vi trong câu hỏi là dưới sự kiểm soát của ý chí của mình” 2. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi vi phạm bản quyền số Ý định: là sự sẵn sàng để thực hiện một hành vi nhất định và được giả định là một tiền đề trước hành vi. Ý định hành vi cũng là một thước đo ý định của cá nhân để thực hiện một hành vi cụ thể (Venkatesh và cộng sự, 2003). Hành vi: là phản ứng có thể quan sát được của một cá nhân trong một tình huống cụ thể liên quan đến một mục tiêu nhất định.
Theo Venkatesh và cộng sự (2003), ý định hành vi có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến hành vi. Một số nghiên cứu trước đây về vi phạm bản quyền số Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan về vi phạm bản quyền số Bối Phương Tác giả Khung lý thuyết Phát hiện chính cảnh pháp Peace - TPB Phần 201 - Các biến TPB có thể dự đoán hành vi vi và cộng - Lý thuyết ngăn mềm người phạm bản quyền số. sự chặn theo học - Mức độ phạt, khả năng bị phạt, chi phí (2003) MBA phần mềm ảnh hưởng đến thái độ đối với vi phạm bản quyền. Cronan - TPB Phần 280 sinh Kết nối các biến TPB, hành vi trước đây, và Al- - Lý thuyết về đạo mềm và viên trách nhiệm đạo đức ảnh hưởng đến ý Rafee đức dữ liệu định vi phạm bản quyền.
(2008) -Lý thuyết ngăn chặn media Liao và - TPB Phần 305 đối - Nhận thức về ảnh hưởng của rủi ro tác cộng sự - Bốn thành phần mềm tượng động đến ý định vi phạm bản quyền. (2010) nhận thức về rủi ro - Thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi tác động đến ý định sử dụng phần mềm trái phép. 8 Yoon - TPB Nội 270 sinh - Các biến TPB, nghĩa vụ đạo đức, sự (2011) - Lý thuyết về đạo dung số viên công bằng có thể dự đoán vi phạm bản đức quyền số. - Nhận thức lợi ích cá nhân, nhận thức rủi ro, thói quen ảnh hưởng đến thái độ của đáp viên đối với vi phạm bản quyền số.
Yoon - TPB Nội 317 sinh - So sánh hai mô hình. (2012) - Mô hình Hunt- dung số viên tại - Các biến TPB như thái độ và kiểm soát Vitell Hàn hành vi tác động mạnh đến ý định vi Quốc phạm bản quyền. Chuẩn chủ quan ít tác động đến ý định vi phạm. Wuland - TAM Nhạc số 150 sinh Kinh tế và công nghệ là những yếu tố có ari - Lý thuyết độ thoả viên ảnh hưởng đến vi phạm bản quyền số (2014) dụng kỳ vọng (Expected utility theory) Sang và - TBP Tải về 262 sinh - Vai trò của sự khác biệt văn hoá ảnh cộng sự - Một số lý thuyết về phần viên tại hưởng đến ý định vi phạm.
(2014) đạo đức mềm Mỹ và trái phép 270 sinh từ các viên tại kết nối Hàn trực tiếp Quốc (P2P) Hoàng - Thuyết nhận thức Phần 358 sinh - Tập quán xã hội, sự kích thích, ngăn và Hà xã hội (SCT) mềm số viên tại cản, thái độ và sự buông thả đạo đức tác (2014) Việt động đến ý định vi phạm bản quyền phần Nam mềm. Trong đó sự buông thả đạo đức có tác động mạnh mẽ nhất. Gomes - Kinh tế Phần - Tổng hợp các yếu tố văn hoá, kinh tế, và cộng - Văn hoá mềm pháp luật tác động đến vi phạm bản sự - Giáo dục quyền. (2015) - Công nghệ - Pháp luật Nguồn : Tổng hợp từ các tác giả 9 Trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã sử dụng nhiều mô hình nghiên cứu và nhiều lý thuyết khác nhau trong nghiên cứu ý định hành vi vi phạm bản quyền.
Các lý thuyết ngăn chặn được sử dụng trong các nghiên cứu của Peace và cộng sự (2013), Cronan và Al-Rafee (2008) và Hoàng và Hà (2014). Một số lý thuyết về đạo đức cũng được đề cập trong các nghiên cứu của Yoon (2011) cũng như Hoàng và Hà (2014), bên cạnh đó là các yếu tố nhận thức về rủi ro cũng được đề cập (Liao và cộng sự, 2010). Nhóm mẫu khảo sát phần lớn là đối tượng sinh viên tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam. Nhận thấy, sự thiếu tích hợp giữa các góc nhìn của các nghiên cứu trên sẽ làm giảm ý nghĩa của nghiên cứu.
Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ dừng ở ý định hành vi, mà chưa xem xét đến hành vi vi phạm trực tiếp. Ngoài ra, đối tượng khảo sát phần lớn là sinh viên, những người có mức thu nhập thấp, nên chưa thấy được ý định của nhóm đã tự chủ về tài chính. Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy Sự phát triển công nghệ, và Vai trò của pháp luật về SHTT chưa được xem xét một cách kỹ lưỡng trong các mô hình nghiên cứu trên. Đây cũng là những điểm sẽ được cải tiến trong nghiên cứu này.
Các khía cạnh tác động đến ý định vi phạm bản quyền số 2. Kinh tế, Nhận thức lợi ích về kinh tế và Thói quen Một trong những đo lường đang được áp dụng ở nhiều nghiên cứu vi phạm bản quyền phần mềm là Gross Domestic Product per capita (GDPpc). (Gopal và Sanders, 1998), (Marron và Steel, 2000) và (Goel và Nelson, 2009) chỉ ra rằng gia tăng GDP sẽ làm giảm vi phạm bản quyền phần mềm. Có rất nhiều yếu tố tác động vào việc vi phạm bản quyền.