mở đầu cho nội dung nghiên cứu như vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, … Trong chương 2, tác giả sẽ tham khảo lại những lý thuyết, nghiên cứu trước đây về cơ cấu vốn doanh nghiệp để làm nền tảng cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn doanh nghiệp ngành Dược là rất cần thiết để có cơ sở đưa ra quyết định quản trị doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí và gia tăng giá trị doanh nghiệp.1 Khái niệm về cơ cấu vốn doanh nghiệp 2.1 Cơ cấu vốn Cấu trúc vốn được mô tả từ việc hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mua sắm công cụ dụng cụ và tài sản cố định, …Có thể hiểu rằng, cơ cấu vốn là quan hệ giữa tỷ trọng nợ và vốn chủ sỡ hữu hay là tỷ trọng giữa nợ và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.2 Khái niệm về nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu Cơ cấu vốn của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn vay bên ngoài (chủ yếu từ các tổ chức tài chính) và nguồn vốn chủ sở hữu.1 Nguồn vốn vay Nguồn vốn vay chính là nguồn vốn các doanh nghiệp được tài trợ từ các đối tác bên ngoài. Nguồn vốn vay sẽ được phân loại nguồn vay ngắn hạn và dài hạn. Nguồn vốn vay ngắn hạn thường các doanh nghiệp sử dụng cho mục đích tài trợ vốn lưu động để cấp vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường có thời hạn dưới 1 năm.
Nguồn vốn vay dài hạn thường sử dụng cho mục đích tài trợ mua sắm tài sản cố định (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, …) hay các dự án lớn cần nguồn vốn có thời hạn hợp đồng vay lâu hơn 1 năm. Nguồn vốn vay dài hạn ngoài việc tiếp cận vốn tài trợ từ các -8- ngân hàng thương mại, công ty tài chính mà còn có thể chính doanh nghiệp phát hành trái phiếu trên thị trường vốn để huy động vốn.2 Nguồn vốn chủ sở hữu VCSH là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. VCSH đến từ 3 nguồn: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. VCSH bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi.
VCSH có thể được hiểu theo các cách sau: Một là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. Hai là trên bảng cân đối kế toán, VCSH là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất).3 Cơ cấu vốn tối ưu Quan điểm truyền thống (Traditional Approach) hay còn được hiểu là lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu (Optimal Capital Structure), cho rằng tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu. Cơ cấu vốn tối ưu chính là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần ở một tỷ lệ nhất định để tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC), từ đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và giá cổ phiếu. Chi phí sử dụng vốn bình quân được xác định theo công thức sau: 𝐸 𝐷 𝑊𝐴𝐶𝐶 = 𝑟𝑆 + 𝑟𝑑 (1 − 𝑡) 𝐷+𝐸 𝐷+𝐸 Trong đó: 𝑟𝑆 là chi phí sử dụng vốn cổ phần hay vốn chủ sở hữu -9- 𝑟𝑑 là chi phí sử dụng nợ E là giá trị thị trường hoặc giá trị sổ sách của vốn cổ phần D là giá trị thị trường hoặc giá trị sổ sách của nợ t là thuế suất thu nhập doanh nghiệp Một số giả định theo quan điểm truyền thống: Thứ nhất, thị trường tài chính không hoàn hảo, doanh nghiệp và nhà đầu tư không thể vay nợ với lãi suất như nhau.
Thứ hai, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế thu nhập doanh nghiệp. Thứ ba, doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ. Tuy nhiên, khi mức độ sử dụng tăng nhưng tỷ số nợ vẫn ở mức thấp, chủ sở hữu và chủ nợ có thể bỏ qua rủi ro và không tăng tỷ suất sinh lời đòi hỏi hoặc tăng nhưng không đáng kể. Quan điểm truyền thống cho rằng: Doanh nghiệp có thể giảm chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) nhờ vào việc sử dụng nợ, bởi lẽ chi phí của nợ thấp hơn chi phí của vốn cổ phần.
Lý do để lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu cho rằng chi phí sử dụng nợ thấp hơn chi phí sử dụng vốn cổ phần là do khoản tiết kiệm từ lãi vay. Khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay, lãi vay sẽ làm giảm thuế thu nhập phải nộp. Trong khi, lợi nhuận mà doanh nghiệp chia cho cổ đông không tạo ra khoản tiết kiệm thuế. Như vậy, muốn giảm chi phí sử dụng vốn bình quân doanh nghiệp phải sử dụng nợ.
Tuy vậy việc sử dụng nợ sẽ làm tăng rủi ro cho chủ nợ và cổ đông, do vậy WACC chỉ giảm khi mức độ sử dụng nợ vẫn còn nằm trong giới hạn để các chủ nợ và cổ đông không tăng tỷ suất sinh lời đòi hỏi hoặc tăng không đáng kể. Tóm lại, nếu doanh nghiệp muốn thiết lập cơ cấu vốn tối ưu, thì không thể không sử dụng nợ. Quyết định sử dụng đồng thời cả hai nguồn: nợ và vốn chủ sở hữu sẽ giúp doanh nghiệp giảm được WACC và thiết lập được cơ cấy vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân thấp nhất. Tuy nhiên, không có cơ cấu vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp và trong mọi giai đoạn phát triển.2 Đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Đòn bẩy tài chính là thể hiển mức độ sử dụng vốn vay trong nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (hay thu nhập trên một cổ phần của công ty).
Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở hệ số nợ. Doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính ở mức độ cao và ngược lại. Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì mức độ rủi ro trong hoạt động tài chính càng cao, nhưng cơ hội gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) càng lớn.2 Chỉ tiêu đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính Để xác định được mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, phải tính những chỉ tiêu tài chính của công ty. Nhưng sẽ đưa ra các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của doanh nghiệp đo lường dựa vào giá trị sổ sách so với giá trị thị trường.
Theo nghiên cứu Timan và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, dẫn đến việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu đo lường sẽ xác định cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định giá trị thị trường nguồn vốn rất khó khăn khi thiếu thông tin chi tiết nên trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng theo giá trị sổ sách để tính các chỉ số tài chính doanh nghiệp như: tỷ số nợ trên VCSH và tỷ số TTS trên VCSH. Tỷ số nợ trên VCSH Chỉ số này đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp trong mối quan hệ với mức độ sử dụng VCSH 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑇ỷ 𝑠ố 𝑛ợ 𝑡𝑟ê𝑛 𝑉𝐶𝑆𝐻 = 𝑉𝐶𝑆𝐻 Trong đó: Tổng nợ là toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn. Cụ thể: khoản vay ngắn hạn, khoản vay dài hạn hay các khoản phải trả mà chính doanh nghiệp đang chiếm dụng khác.
- 11 - Vốn chủ sở hữu là bao gồm từ vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại được tích lũy qua nhiều năm hoạt động. Ý nghĩa của chỉ số là cho thấy được trong doanh nghiệp hiện đang có mức độ sử dụng nợ so với VCSH đang diễn biến ra sao. Tỷ số nợ trên VCSH có thể hơn hơn hoặc nhỏ hơn một. Nếu tỷ số nợ trên VCSH nhỏ hơn một có nghĩa là hiện tại doanh nghiệp đang hướng đến hạn chế sử dụng nguồn vốn vay bên ngoài mà sử dụng nguồn VCSH nhiều hơn để tài trợ cho tài sản, cho thấy được doanh nghiệp đang tự chủ tài chính để tránh rủi ro tài chính từ việc trả chi phí tài chính cố định hàng kỳ nhưng việc thận trọng này đã làm cho doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế từ đòn bẩy tài chính.
Ngược lại, nếu doanhh nghiệp có tỷ số nợ trên VCSH lớn hơn một hay quá cao sẽ cho thấy doanh nghiệp đang có xu hướng sử dụng nguồn vốn vay bên ngoài thay vì dùng nguồn VCSH, việc này sẽ có lợi thế về đòn bẩy tài chính nhưng sẽ phát sinh một khoản chi phí tài chính cố định hàng kỳ nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ do phải gánh khoản chi phí tài chính này. Vì vậy, quyết định sử dụng nguồn nào trong cơ cấu vốn để quyết định tài trợ cho tài sản phải được đánh giá theo từng thời kỳ và cũng phải phụ thuộc vào đặc điểm ngành hoạt động. Tỷ số tổng tài sản trên VCSH 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡𝑟ê𝑛 𝑉𝐶𝑆𝐻 = 𝑉𝐶𝑆𝐻 Ý nghĩa của chỉ số là cho thấy được trong doanh nghiệp khả năng tài trợ tổng tài sản đến từ nguồn VCSH. Chỉ số tổng tài sản trên VCSH sẽ được so sánh với một.
Nếu tỷ số này lớn hơn một thì cho thấy được khả năng dùng nguồn VCSH thấp để tài trợ cho tổng tài sản. Ngược lại, nếu chỉ số này nhỏ hơn một sẽ thấy được doanh nghiệp phần lớn đang sử dụng nguồn VCSH để tài trợ cho tổng tài sản, nhưng cũng cho thấy tình hình hiện tại doanh nghiệp đang không sử dụng vay nợ để tận dụng đòn bẩy tài chính.3 Mục đích đòn bẩy tài chính Trong việc quản trị doanh nghiệp, khi tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh đang phát triển ổn định, ban lãnh đạo doanh nghiệp sẽ hướng đến chiến lược để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời sẽ tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Phương án - 12 - thường được sử dụng cho mục tiêu đó chính là đòn bẩy tài chính.