CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh học thận Suy thận Suy thận mạn là hậu quả các bệnh mạn tính của thận gây giảm sút từ từ số lượng Nephron chức năng làm giảm dần mức lọc cầu thận. Khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 50% (60ml/phút) thì được gọi là suy thận mạn [7]. Suy thận được gọi là mạn tính khi mức lọc cầu thận giảm thường xuyên, cố định, có liên quan đến sự giảm số lượng Nephron chức năng.
Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của những bệnh thận – tiết niệu mạn tính, khiến chức năng của thận bị suy giảm dần tương ứng với số lượng Nephron của thận bị tổn thương, mất chức năng không phục hồi. Suy thận mạn làm giảm mức lọc cầu thận, rối loạn điện giải, tăng huyết áp và thiếu máu mạn tính, loãng xương – nhuyễn xương – gãy xương. [7] Hội Thận học quốc tế (ISN = International Society of Nephrology) và Hội Thận học quốc gia Hoa Kỳ (National Kidney Foundation) đã chia bệnh thận mạn thành 5 giai đoạn dựa trên độ lọc cầu thận (GFR) gồm: [7] Giai đoạn 1: MLCT > 90 mL/phút Giai đoạn 2: MLCT 60 – 89 mL/phút Giai đoạn 3: MLCT 30 – 59 mL/ phút Giai đoạn 4: MLCT khoảng 15 – 29 mL/phút Giai đoạn 5: MLCT < 15 mL/phút Bệnh thận mạn tính giai đoạn 1 và 2: Tổn thương thận ở giai đoạn này thường chưa nghiêm trọng. Đặc điểm chung của hai giai đoạn này là triệu chứng bệnh chưa rõ ràng, chỉ khởi phát theo đợt.
Vì thế, người bệnh rất khó nhận ra bệnh. Trong các đợt khởi phát cấp tính của bệnh thận mạn, người bệnh sẽ cảm thấy chán ăn, thiếu máu nhẹ, tiểu đêm nhiều, cảm giác mệt mỏi, đau tức hai bên thắt lưng. [7] 4 Phần lớn người bệnh rất khó phát hiện mình mắc bệnh thận mạn ở giai đoạn 1 và 2. Họ chỉ tình cờ phát hiện khi đi kiểm tra sức khỏe hay thăm khám bệnh lý khác.
Khi phát hiện bệnh trong giai đoạn này, người bệnh được điều trị đúng phương pháp kết hợp chế độ ăn uống hợp lý, có thể kiểm soát tốt tình trạng bệnh và ngăn ngừa triệu chứng tiến triển. [7] Bệnh thận mạn giai đoạn 3 Trong giai đoạn này, chức năng của thận đã bị suy giảm rõ. Triệu chứng có thể chưa rõ ràng, nhiều trường hợp vẫn không xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào hoặc khá mơ hồ, khiến người bệnh nghĩ mình mắc bệnh nào đó “nhẹ nhàng” hơn như mệt mỏi, ăn kém,… Một số người bệnh ở đợt khởi phát cấp có thể xuất hiện các triệu chứng như đau lưng, phù mí mắt, sưng chân và tay, đi tiểu với lượng nhiều hay ít hơn bình thường. [7] Ở cuối giai đoạn này, thận đã bị tổn thương nghiêm trọng.
Mức lọc cầu thận đã giảm nặng. Người bệnh dễ gặp biến chứng nguy hiểm. Người bệnh trong giai đoạn này sẽ có tiên lượng khác nhau nếu có kèm biểu hiện có hay không có tiểu đạm, tiểu đạm vi thể hay đại thể với mức độ nặng tăng theo lần lượt. [7] Bệnh thận mạn giai đoạn 4 Trong giai đoạn 4, biểu hiện lâm sàng đã xuất hiện rõ ràng.
Người bệnh có thể gặp một số triệu chứng do suy giảm chức năng lọc máu của thận như da xanh xao, tăng huyết áp, xuất huyết đường tiêu hóa, chán ăn, tiểu đêm nhiều, buồn nôn, phù nề và ngứa toàn thân, thường xuyên đau nhức đầu, đau nhức xương khớp…[7] Chất độc tích tụ trong máu càng nhiều vì chức năng lọc máu của thận đã suy giảm, triệu chứng bệnh càng rõ ràng. Nếu không chữa trị kịp thời, người bệnh có thể gặp một số biến chứng nguy hiểm như suy tim, tăng huyết áp, phù não, phù phổi… Để cải thiện triệu chứng và giảm nguy cơ tổn thương nội tạng, người bệnh đôi khi cần được chạy thận sớm, đặc biệt nếu suy thận do nguyên nhân đái tháo đường để giúp loại bỏ nước dư thừa và các chất độc trong máu. [7] Thư viện ĐH Thăng Long 5 Bệnh thận mạn tính giai đoạn 5 Đây là giai đoạn bệnh suy thận nghiêm trọng nhất. Thận đã tổn thương vô cùng nghiêm trọng với mức lọc cầu giảm thấp (< 15 mL/phút).
Người bệnh xuất hiện nhiều triệu chứng lâm sàng do nhiều cơ quan đã bị nhiễm độc, nhất là tim mạch, tiêu hóa, thần kinh, hô hấp da và máu. [7] Người bệnh, bệnh thận giai đoạn 5 cần phải điều trị thay thế thận suy, có thể là lọc máu ngoài thận hoặc ghép thận. Ghép thận ở giai đoạn này sẽ là phương pháp tối ưu nhất, mang lại hy vọng sống lâu dài cho người bệnh. [7] Bệnh tiến triển từ từ, nặng lên theo từng đợt, cuối cùng dẫn tới suy thận mạn giai đoạn cuối.
Hai thận khi đó đã mất chức năng hoàn toàn, đòi hỏi người bệnh phải điều trị thay thế thận như lọc máu (chạy thận, lọc màng bụng), ghép thận… Quá trình điều trị tốn kém rất nhiều chi phí, khiến người bệnh mệt mỏi, chán nản. Do đó, bệnh suy thận cần được chẩn đoán, điều trị kịp thời nhằm cải thiện triệu chứng bệnh, đồng thời kéo dài thời gian chuyển thành suy thận giai đoạn cuối, nâng cao tuổi thọ cho người bệnh. [7] Chạy thận nhân tạo là phương pháp lọc máu bên ngoài cơ thể bằng một loại máy nhằm điều trị bệnh suy thận giai đoạn cuối hoặc suy thận cấp (thường do ngộ độc) khi thận đã mất gần hết hoặc mất hoàn toàn chức năng. Ghép thận Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận suy giai đoạn cuối tích cực.
Ghép thận là đỉnh cao tiến bộ của y học nói chung và của ngành thận học, niệu học, miễn dịch học tại riêng. Bản chất của ghép thận là một phẫu thuật lấy một quả thận còn tốt từ người cho, ghép vào cơ thể người nhận bị suy thận mạn giai đoạn cuối và thận dùng để ghép có thể lấy từ một số nguồn: [3] - Người cho thận sống: thận dùng để ghép được chọn từ những người có quan hệ họ hàng với người nhận thận như: cha mẹ, anh chị em ruột, chú bác cô cậu dì, ông, bà nội ngoại. Ngoài ra, có thể lấy thận từ những người không cùng huyết thống tình nguyện hiến tặng. Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não…[3] - Người cho thận chết não, tim ngừng đập: Thời gian kể từ khi tìm người cho đến khi lấy thận không được quá 30 phút.
Tuy vậy chất lượng của thận không tốt bằng thân lấy khi tim còn đập. [3] Điều kiện để có thể cho thận là: - Nếu là người cho thận, họ phải tự nguyện trong việc hiến thận, sức khỏe tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm. Người cho phải có phù hợp nhóm máu, có sự hòa hợp tối thiểu của hệ thống HLA, không có phản ứng miễn dịch chéo giữa người cho và người nhận. [3] - Nếu là người cho chết não, sẽ có hội đồng giám định theo luật, người thân được giải thích cặn kẽ các mặt và đồng ý cho phép lấy thận.
[4] Chỉ định và chống chỉ định khi ghép thận: Việc ghép thận được chỉ định tiến hành cho người bệnh có những đặc điểm suy thận mạn, mức lọc cầu thận dưới 20ml/phút. Tuy nhiên ghép thận cũng có những chống chỉ định tuyệt đối khi người bệnh có một số vấn đề mắc phải như: nhiễm trùng đang hoạt động; bệnh lý ác tính hoạt động; nghiện thuốc, rượu hoặc rối loạn tâm thần không đồng ý ghép thận. Điều trị và theo dõi sau ghép thận Thời gian nằm viện sau mổ ghép thận tùy theo từng người bệnh, trung bình khoảng 2 tuần. Sau mổ, tất cả người bệnh đều phải dùng thuốc UCMD để chống thải ghép.
Việc dùng các thuốc UCMD cũng có thể ức chế hệ thống miễn dịch chống nhiễm khuẩn nên người bệnh ghép thận dễ bị nhiễm khuẩn hơn người bình thường. Bên cạnh đó, thuốc cũng có một số tác dụng phụ và tác dụng phụ này không giống nhau ở mỗi người bệnh do vậy người bệnh cần được theo dõi và kiển tra sức khỏe định kỳ [3]. Sau mổ, việc phục hồi nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tinh thần người bệnh và thuốc dùng, việc thực hiện đúng hướng dẫn của thầy thuốc. Thông thường nếu tiến triển thuận lợi, sau 3 tháng người bệnh đã cảm nhận được sự Thư viện ĐH Thăng Long 7 thay đổi đáng kể CLCS, họ đã có thể sinh hoạt trở lại cuộc sống tương đối bình thường.
Người bệnh lúc này có nhiều thời gian hơn vì họ không phải bỏ hàng giờ trong việc truyền máu mỗi tuần, họ cảm thấy hài lòng hơn khi chế độ ăn kiêng của suy thận được loại bỏ dần sau khi ghép thận. Khái niệm và công cụ đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh ghép thận 1. Khái niệm chất lượng cuộc sống Khái niệm chất lượng cuộc sống (CLCS) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1920 và được biết đến rộng rãi kể từ những năm 1960 [35]. Kể từ khi Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa lại sức khỏe ngoài việc không có ốm đau bệnh tật mà còn cảm thấy hạnh phúc về cả thể chất, tinh thần và xã hội, các khía cạnh của CLCS ngày càng trở nên phổ biến trong chăm sóc và nghiên cứu về sức khỏe.
Mặc dù 8 CLCS được coi là một vấn đề quan trọng của sức khỏe nhưng cho đến nay thế giới vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất về CLCS. Theo Abrams (1973), CLCS là mức độ hài lòng hoặc không hài lòng được cảm nhận bởi con người với các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của họ và Andrew (1974), CLCS như là mức độ niềm vui và sự hài lòng đặc trưng cho tồn tại của con người. [65] Trong những năm 1980 và những năm 1990, định nghĩa về CLCS thu được chia thành một loạt các khía cạnh và xu hướng này vẫn tiếp tục cho đến nay. George và Bearon (1980) định nghĩa CLCS theo bốn khía cạnh cơ bản là: khỏe chung, tình trạng chức năng và tình trạng kinh tế xã hội, sự hài lòng với cuộc sống và các yếu tố liên quan, và sự tự tin và các yếu tố liên quan [29].
Clark Bowling (1989) định nghĩa CLCS là không chỉ có năng lực chức năng, mức độ hoạt động, trạng thái tinh thần, và tuổi thọ mà còn bao gồm các khái niệm về sự riêng tư, tự do, tôn trọng cá nhân, tự do lựa chọn, cảm xúc hạnh phúc, và duy trì phẩm giá. Ferrans và Power (1985) định nghĩa CLCS như là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc của con người bắt nguồn từ sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực của cuộc sống quan trọng đối với họ. Mô hình này bao gồm bốn lĩnh vực: sức khỏe và chức năng, tâm lý/tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [62].