Chương 1: Lý luận tổng quan về cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Chương 2: Thực trạng cấu trúc vốn của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cấu trúc vốn cho các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Kết luận Các nghiên cứu trước đây Trên thế giới đã có khá nhiề u công trình nghiên cứu về cấu trúc vốn, đặc biệt ở các nước phát triển, có hệ thống thông tin minh bạch, đầy đủ và đáng tin cậy. Phải kể đến là nghiên cứu nổi tiếng của Graham và Harvey (2001). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích tài trợ tài chính cho 392 công ty Mỹ, trọng tâm là sự phù hợp các nhân tố lý thuyết quan trọng trong sự lựa chọn cấu trúc vốn như là ước lượng chi phí sử dụng vốn và ngân sách vốn. Graham và Harvey (2001) tìm thấy sự ủng hộ vừa phải của các công ty theo lý thuyết cân bằng cấu trúc vốn và tỷ lệ nợ mục tiêu.
Họ cũng tìm thấy một số công ty ủng hộ lý thuyết trật tự phân hạng. Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng các công ty đánh giá nhân tố chính sách tài chính linh hoạt, nhưng quan trọng là nó không liên quan đến thông tin bất đối xứng theo cách dự đoán của lý thuyết trật tự phân hạng. Họ tìm thấy một số bằng chứng về các yếu tố khác như chi phí đại diện, tài sản thay thế, dòng tiền mặt ảnh hưởng đến sự lựa chọn cấu trúc vốn. Họ cũng cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 biết các nhà quản lý lựa chọn các tiêu chuẩn mật thiết như sự đánh giá mức độ tín nhiệm và sự loãng giá thu nhập trong quyết định tài trợ của họ.
Trên một loạt các cuộc điều tra về cơ cấu vốn tại các nước đang phát triển được thực hiện bởi Booth et al. (2001), họ đưa ra kết luận lợi nhuận của các công ty tương quan nghịch biến với tỷ lệ nợ. Bên cạnh đó, cơ cấu vốn cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quốc gia, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, và sự phát triển của thị trường vốn. Mazur (2007) xem xét các yếu tố quyết định cấu trúc tài chính của 238 công ty phi tài chính tại Ba Lan cho giai đoạn 5 năm 2000-2004.
Nhìn chung, dữ liệu cho thấy rằng các công ty Ba Lan đã sẵn sàng để sử dụng nguồn tài chính bên ngoài vào đầu thế kỷ 21, hơn những năm đầu tiên của quá trình chuyển đổi kinh tế. Tuy nhiên, họ chủ yếu dựa vào các khoản tín dụng thương mại, và luôn giữ tỷ lệ nợ dài hạn dưới mức 8%. Kết quả phân tích hồi quy đa biến được thực hiện bởi Mazur (2007) đối với các công ty Ba Lan cho thấy các công ty có lợi nhuận và có tỷ lệ thanh khoản cao thích sử dụng nguồn vốn nội bộ. Bằng chứng này hỗ trợ các dự đoán trong lý thuyết trật tự phân hạng.
Nếu cơ hội tăng trưởng được đo bằng mối quan hệ của chi phí bán hàng, thì mối tương quan đồng biến giữa chỉ số này và đòn bẩy tài chính cũng phù hợp với lý thuyết về trật tự phân hạng. Sự liên quan của rủi ro kinh doanh cho các doanh nghiệp Ba Lan đã không được xác nhận. Mặc dù có một số khác biệt trong các yếu tố quyết định cơ cấu vốn giữa các dạng khác nhau của các công ty, nói chung, có thể nhận thấy sự ưu tiên nguồn vốn nội bộ hơn so với nguồn vốn bên ngoài so với các phân lớp này. Quyết định tài chính của các doanh nghiệp nhỏ, lợi nhuận thấp và các doanh nghiệp không chi trả cổ tức có vẻ như được quyết định bởi cùng một tập hợp các yếu tố trên.
Sự biến động chính của lý thuyết trật tự phân hạng có thể nhận thấy được thông qua việc phân tích phân lớp thứ hai, trong đó mối tương quan đồng biến giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp có lợi nhuận lớn sẽ được nhận ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Antoniou, Guney và Paudyal (2008) điều tra làm thế nào các công ty hoạt động trong thị trường vốn theo định hướng kinh tế thị trường (Anh và Mỹ) và các nền kinh tế theo định hướng ngân hàng (Pháp, Đức và Nhật Bản) xác định cơ cấu vốn của họ. Bài viết chỉ ra rằng tỷ lệ đòn bẩy có mối tương quan tỷ lệ thuận với tài sản hữu hình và quy mô doanh nghiệp, nhưng lại tương quan tỷ lệ nghịch với lợi nhuận của doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng và giá cổ phiếu trong cả hai loại hình kinh tế. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính cũng bị tác động bởi các điều kiện thị trường mà công ty đang hoạt động.
Mức độ và tác động của các yếu tố này phụ thuộc vào pháp lý và truyền thống kinh doanh của nước sở tại. Kết quả cũng xác nhận rằng các công ty có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu, đối với các công ty Pháp thì tốc độ chuyển đổi cơ cấu vốn để đạt được cấu trúc vốn mục tiêu là nhanh nhất trong khi các công ty Nhật Bản là chậm nhất. Nhìn chung, cấu trúc vốn của công ty bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường kinh tế và các tổ chức lập pháp. Črnigoj và Mramor (2009) nghiên cứu các yếu tố dẫn dắt sự lựa chọn cơ cấu vốn trong các công ty Slovenia và cho rằng các lý thuyết dựa trên giả định các công ty theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông sẽ không thể giải thích được sự lựa cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong các nền kinh tế mới nổi châu Âu.
Bằng cách giả định hành vi của các công ty nhà nước, nghiên cứu của họ chỉ ra rằng các doanh nghiệp càng có những nét đặc trưng của công ty nhà nước thì đòn bẩy tài chính càng thấp bởi vì các doanh nghiệp này sẽ cố gắng nâng lương tối đa ở mức nợ thấp nhất có thể. Họ cũng kiểm tra tác động của một số yếu tố khác được đề xuất bởi các lý thuyết về cơ cấu vốn hiện đại như là tài sản hữu hình, biến động thu nhập, quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận và tăng trưởng. Những yếu tố quyết định này giải thích phần lớn của sự khác biệt trong cơ cấu vốn giữa các công ty. Hơn nữa, sự thuyết phục của các giải thích này không được như mong đợi khi mà nhà quản lý và các chủ sở hữu bắt đầu kiểm soát tốt nhân viên cũng như việc kinh doanh của họ.
Tác giả Trần Đình Khôi Nguyên và Neelakantan Ramachandran (2006) trong bài nghiên cứu “Cấu trúc vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ: trường hợp của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Việt Nam” đã đề cập đến các biến định lượng và cả biến định tính có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là: tăng trưởng, tài sản hữu hình, khả năng sinh lợi, quy mô, rủi ro kinh doanh, quyền sở hữu công ty, mối quan hệ với ngân hàng, khả năng liên kết. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy rằng: - Các công ty thuộc sở hữu Nhà nước có tỷ lệ nợ cao hơn các công ty tư nhân. - Quy mô công ty và mức độ rủi ro kinh doanh có mối quan hệ đồng biến với cấu trúc vốn; biến khả năng sinh lợi không có ý nghĩa với mô hình; tài sản hữu hình có quan hệ nghịch biến với tổng nợ và tỷ lệ các khoản phải trả ngắn hạn nhưng ảnh hưởng của nó không đủ mạnh mẽ để chỉ ra rằng vấn đề chi phí đại diện và Lý thuyết kiệt quệ tài chính có thể giải thích sự liên quan giữa tài sản hữu hình và các tỷ lệ nợ. - Các yếu tố về hành vi quản lý lại có tác động mạnh mẽ đến cấu trúc vốn công ty, đó là công ty có mối quan hệ tốt với ngân hàng, có khả năng vay được các khoản nợ lớn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình; và khả năng liên kết tốt giúp các công ty có cơ hội để đạt được các khoản tín dụng thương mại và các nguồn tài chính khác.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chƣơng 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Thị trƣờng chứng khoán và công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán 1. Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. TTCK là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền.
Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 1. Nguyên tắc trung gian Đây là nguyên tắc căn bản cho hoạt động và tổ chức TTCK với vai trò của các công ty chứng khoán, các nhà môi giới làm cầu nối giữa cung và cầu chứng khoán. Theo nguyên tắc này, trên TTCK, các giao dịch được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành.
Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình. Nguyên tắc cạnh tranh Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá hay khớp lệnh.