phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 5 chương: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học theo phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ Chƣơng 4: Giải pháp vận dụng kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học của quốc tế vào thực tiễn Việt Nam 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu Hội nhập quốc tế đang diễn ra ở các quốc gia trên thế giới với quy mô, hình thức và tốc độ khác nhau. Mỗi quốc gia đều đẩy mạnh nâng cao khả năng cạnh tranh trong thị trường quốc tế với nhiều lĩnh vực khác nhau. Và xuất khẩu dịch vụ giáo dục đại học hiện nay đang là lĩnh vực được nhiều quốc gia quan tâm nhằm nâng cao vị thế, chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia.
Vấn đề này đã được các nhà khoa học trong nước, trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều nhận định khác nhau. Nghiên cứu về dịch vụ giáo dục đại học Theo hệ thống phân loại Công nghiệp của Bắc Mĩ (North American Industrial Classification System (NAICS, 2002), thì lĩnh vực dịch vụ giáo dục gồm toàn bộ các cơ sở dịch vụ được thiết lập trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm cả các dịch vụ công, có lợi nhuận và không lợi nhuận từ dịch vụ giáo dục mầm non đến đại học, các lĩnh vực đào tạo kinh doanh, công nghệ, khoa học kỹ thuật, các dịch vụ dạy học… Tim Mazzarol, Geoffrey Normal Soutar (2001), quan niệm giáo dục như là một loại hình dịch vụ thị trường. Theo đó, mặc dù dịch vụ giáo dục vẫn được coi là một loại hình dịch vụ trong thị trường, nhưng nó khác ở chỗ những dịch vụ khác ở chỗ dịch vụ giáo dục liên quan đến con người. Ông chỉ ra 5 tính chất của dịch vụ giáo dục như sau: - Dịch vụ giáo dục quan hệ với con người, đặc biệt là trí tuệ của họ hơn là với các công cụ; - Mối quan hệ với khách hàng, nhất là với học sinh mang tính chính thống, lâu dài; - Một số dịch vụ đòi hỏi có sự chuyên môn hóa cao và quen thuộc; - Nhu cầu dịch vụ có thể ở qui mô lớn hoặc nhỏ tùy thuộc loại hình; - Phương pháp cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào các đối tượng khách hàng: có thể dịch vụ đến với khách hàng hoặc khách hàng đến với dịch vụ.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Philip Altbach (2006), tại Diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”, ông đã nhận định: GATS tác động đến những vấn đề của GDĐH như: tự chủ, tự quyết định, chính sách quốc gia… Tuy nhiên, GATS cũng có những mặt trái như: Các thị trường mở, thúc đẩy sự tự do và bình đẳng. Nếu biên giới giáo dục hoàn toàn được mở, những người cung cấp giáo dục mạnh nhất và giàu nhất sẽ thâm nhập mà không bị giới hạn. Các nước kém phát triển với các trường đại học không đủ sức cạnh tranh sẽ rất khó phát triển. Điều đó có nghĩa là các trường đại học đang phát triển sẽ khó cạnh tranh với những nhà cung cấp GDĐH lâu đời với nền giáo dục chất lượng, có vị thế trên thế giới.
Từ những nghiên cứu, ông đã chỉ ra những nét cơ bản trong việc hoạch định chính sách phát triển GDĐH trong thời kỳ HNQT và cam kết của GATS. Vũ Ngọc Hải (2008), nghiên cứu dịch vụ GDĐH xuyên biên giới và những tác động đến GDĐH Việt Nam, ông cho rằng: hiện nay GDĐH ở các quốc gia không thể đóng khung trong phạm vi nước mình; mà thực tế GDĐH đang là lĩnh vực có phát triển mạnh trong hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá. Các nước phát triển với lợi thế kinh tế tăng trưởng mạnh đã tạo dựng nhiều trường đại học tiên tiến, hiện đại với chất lượng tốt, phương pháp dạy linh hoạt và đặc biệt là luôn gắn với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Yếu tố này đã gây sự hấp dẫn lớn và thu hút được sinh viên nhiều quốc gia trên thế giới theo học.
Mặt khác, hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng đang hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có GDĐH để có thể liên thông không những chỉ trong bản thân hệ thống mà còn liên thông được với hệ thống giáo dục trong khu vực và nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2006), với nghiên cứu “phát triển GDĐH Việt Nam trong bối cảnh nước ta gia nhập WTO”, đã nghiên cứu GDĐH Việt Nam sau WTO với việc tích cực thực hiện các cam kết về GATS trong lĩnh vực giáo dục. Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng nền GDĐH nước ta phải thay đổi để thích ứng với các điều kiện mới; yêu cầu thay đổi đã trở thành vấn đề toàn cầu. Ngoài ra, nghiên cứu của ông cũng đã đưa ra kịch bản về sự phát triển GDĐH Việt Nam sau WTO là dựa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên giả thiết là bao giờ, như thế nào và với điều kiện gì Việt Nam sẽ mở cửa giáo dục theo các cam kết về GATS.
Bành Tiến Long (2006), cũng đã đưa ra thực trạng quản lý nhà nước về GDĐH thể hiện rất cụ thể trong Báo cáo tại diễn đàn quốc tế “Gia nhập WTO và đổi mới GDĐH Việt Nam”: Hiện nay, Việt Nam có chiến lược, cơ chế, chính sách phát triển GDĐH không rõ ràng, chưa bám sát thực tế giáo dục nước ta; bên cạnh đó, còn có nhiều chính sách đã lạc hậu không đáp ứng kịp với sự phát triển KTXH, sự phát triển của nền giáo dục của các nước trên thế giới; tư duy quản lý Nhà nước về GDĐH còn mang nặng quán tính của cơ chế bao cấp, mệnh lệnh. chưa phù hợp với sự đổi mới của cơ chế kinh tế và HNQT; công tác thống kê, cung cấp thông tin giáo dục thiếu chính xác, không công khai; công tác thanh tra, kiểm tra còn mang nặng hình thức; hệ thống kiểm định và đánh giá chất lượng GDĐH vẫn chưa đánh giá được chất lượng của các trường đại học nước ta. Trần Khánh Đức (2010), trong giáo trình “GDĐH Việt Nam và thế giới”, ông đã hệ thống lược sử các giai đoạn phát triển của GDĐH trên thế giới; chỉ ra được những đặc trưng và xu hướng phát triển cơ bản của nền GDĐH hiện đại. Ông đã nghiên cứu và phân tích sự khác biệt về cơ cấu hệ thống và đặc điểm về loại hình, tổ chức nhà trường đại học trong hệ thống GDĐH một số nước và Việt nam.
Từ đó, đề ra những mục tiêu và giải pháp về chiến lược đổi mới GDĐH Việt Nam trong giai đoạn HNQT. Đỗ Hương Lan (2009), nghiên cứu khoa học về “Xuất khẩu GDĐH theo phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ, kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam”, đã phân tích tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu dịch vụ GDĐH; phân tích điểm mạnh, điểm yếu của xuất khẩu dịch vụ GDĐH của một số nước lớn trên thế giới (Mỹ, Anh, Nga, Pháp, Nhật Bản, Úc, Trung Quốc. Từ đó, xây dựng những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển xuất khẩu GDĐH. Lê Phước Minh (2010), nghiên cứu về xuất nhập khẩu GDĐH: Quan điểm, xu thế và giải pháp cho GDĐH Việt Nam, đã phân tích và đánh giá chất lượng giáo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục của Việt Nam hiện nay còn thiếu khả năng cạnh tranh.
Bởi vậy, dịch vụ giáo dục đại học Việt Nam chỉ có thể phục vụ và đáp ứng, thậm chí chỉ ở mức độ thỏa mãn thấp, cho nhu cầu người học trong nước, khó có thể xuất khẩu tại chỗ hoặc xuất khẩu ra nước ngoài được. Ông cho rằng Việt Nam cần có chính sách đầu tư vào giáo dục để nâng cao tính cạnh tranh và tạo điều kiện tăng khả năng tiếp cận GDĐH quốc tế. Mở rộng thị trường phát triển giáo dục dựa trên các phương thức mở chi nhánh, xây dựng liên kết với các trường đại học tại nước khác. Nghiên cứu chính sách thu hút dịch vụ giáo dục đại học Tiêu biểu trong nghiên cứu về chính sách xuất nhập khẩu dịch vụ GDĐH là Hiệp ước Bologna.
Hiệp ước này được Bộ trưởng giáo dục của 29 nước Châu Âu ký vào năm 1999 và mở rộng cho các nước tham gia khi có nhu cầu. Đến nay, đã có 47 nước là thành viên của Hiệp ước. Các quốc gia tham gia Hiệp ước theo đuổi mục đích thành lập một khu vực GDĐH Châu Âu với các chuẩn mực về bằng cấp và bảo đảm chất lượng có tính so sánh và tương thích hơn trong toàn Châu Âu đến năm 2010. Ở Việt Nam, có công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Bá Lãm và Phạm Thành Nghị (1999) về “Chính sách và kế hoạch trong QLGD”.
Nội dung trong cuốn sách là trình bày các khái niệm cơ bản của chính sách, chiến lược, kế hoạch và mối liên quan giữa các phạm trù này. Cuốn sách mô tả những lý luận của chính sách bao gồm sự phức tạp và đa dạng. Các vấn đề về quy trình xây dựng chính sách, lập kế hoạch triển khai chính sách cũng được đề cập đến trong cuốn sách. Lê Phước Minh (2010), trong cuốn chuyên khảo “Chính sách quản lý xuất nhập khẩu GDĐH kinh nghiệm quốc tế và sự lựa chọn của Việt Nam”, tác giả đã chỉ ra bối cảnh GDĐH trong và ngoài nước trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu làm rõ các khái niệm, quan điểm, đường lối và sự khác biệt về các chính sách quản lý xuất nhập khẩu GDĐH.
Tuy nhiên, tác giả cũng chưa phân tích, đánh giá được một số tác động của các chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ GDĐH hiện nay. Hoàng Văn Châu và cộng sự (2011), cuốn sách “Xuất nhập khẩu dịch vụ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GDĐH của Việt Nam” đã đề cập về dịch vụ GDĐH cũng chỉ ra kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển xuất nhập khẩu giáo dục; phân tích các hoạt động xuất nhập khẩu như quy mô, hệ thống các trường đại học và đội ngũ giáo viên, nguồn vốn và các phương thức xuất nhập khẩu dịch vụ GDĐH; định hướng và giải pháp phát triển GDĐH Việt Nam đến năm 2020.