CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. TẤM QUAN TRỌNG CỦA VÂN ĐỂ NKIIHCT ở TRẺ EM. TỶ LỆ MẮC. Nhũng nghiên cún lại cộng (lổng.
Qua nhiều nghiên cứu ở nhiều nước và khu vực trên thế giới nhóm tư vấn kỹ thuật của TCYTTG đều cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT là rất cao. Bằng thăm hỏi hai tuần một lổn vể bệnh tọt cùa trẻ (lưới 5 tuổi, tại I 10 gia đình ở ngoại ố Vellore (Ân Độ), Kamalh, Feldman và cộng sự (1969) thấy rằng tỷ lộ mắc NKHHCT là cao nhất. Nếu tính trung bình thì tổn xuất mắc bệnh NKHHCT/trẻ/năm là 7 lần đôi với Ire dưới I tuổi và 6 lổn dối với trẻ lừ I đến 4 tuổi |43J. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu (1992) của chương trình quốc gia phòng chống NKHHCT trên 8799 trẻ lại 50 xã dồng bằng thấy tỷ lệ mắc bệnh NKHHCT dao dộng từ 22-40% theo lùng dịa phương.
Trẻ dưới 1 tuổi mắc bệnh cao gấp tìr 1,2 đến 2 lần so với tre tìr I đến dưới 5 tuổi [13). Thống kê tại 18 xã của tỉnh Quảng Nam - Đà Nắng (1991), Vũ Thị Thu Hằng cũng thấy 59% số trẻ đốn khám lại các trạm Y tế xã Là NKHHCT 112|. Nguyễn Nghinh theo dõi trên 44 xã, phường lại Hà Nội, thì tỷ lệ này là 59,1% I I9|. Nguyễn Văn Tiêm và cộng sự theo dõi trên 170 xã của tỉnh Hà TAy (1990) thì tỷ lệ này là 71% |27|.
Theo Tô Anh Toán và cộng sự, tại 25 xã của huyện Quảng Xương - Thanh Hoá (1988-1990), thì tỳ lệ này tại các trạm Y tê' xã là 3/4 [29J Theo dõi trẻ đến khám tại trạm Y tế các xã, phường của một số tỉnh phía 4 Nani (1983 - 1986) Tạ Ánh Iloa cho Ihấy có lới 45% sô lie đến khám là do NKHHCT II4Ị. Những nghiên cứu tại bệnh viện. Các nghiên cứu hong và ngoài nước đều cho thấy NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong sô' trẻ đen khám và diều trị lại bệnh viện. Theo sô' liệu của một sớ nước đang phát triển, NKIIHCT chiêm tír 25-42% trẻ đến khám và 24-36% trẻ điều trị tại bệnh viên |66|.
Trong một nghiên cứu mang lính toàn cầu tiến hành năm 1986, Leowski cũng cho nhộn xét là từ 30-60% trẻ đến khám bênh và từ 30- 36% trẻ nhập viện diều trị là do NKHHCT 1441. Theo Trần Thị Biển nghiên cứu tại 6 bệnh viên quận, huyện của Ilà Nội thì tỳ lộ trẻ đen khám vì NKHHCT tại các phòng khám Nhi năm 1990 là 38% và năm 1995 là 39% [3|. Trong vòng 16 năm (I960 - 1976) tại Viện bảo vộ sức khoẻ trẻ em, Nguyên Thu Nhạn và cộng sự thây có tới 44% trẻ em nhập viên là do NKIỈHCT |211. Theo một nghiên cứu của Trán Quỵ và Nguyễn Tiến Dũng tiên hành trong 8 năm (1981- 1988) lại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, chỉ lính riêng trẻ em nhập viện vì nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp lính cũng dã chiếm 30,5% [25].
Sô' liêu tại một sô' bệnh viện khác cũng cho thấy một tình trạng lương tự. TỶ LỆ TỬ VONG. Có một sự khác biệt khá lớn vồ tỷ lộ lử vong do viêm phổi ở các nước dang phát triển so với các nước đã phát triển |54|. Một thống kê lổng hợp (1990) tại 19 diểm nghiên cứu của 16 nước đang phát triển đã cho thấy tỷ lộ lử vong do NKHHCT chiếm khoảng 1/3 lử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi [671.
5 Theo Đặng Đức Lộc, Bùi Quang Lộc và Nguyễn Thị Mừng thì trong năm 1994, tại khoa Nhi, bệnh viện lỉnh Đắc Lắc tỷ lộ tre dưới 5 tuổi tử vong do NKHHCT chiếm 38,9% tử vong chung Ị I8|. ơ Việt Nam, theo diều tra của Viện Lao và Bệnh phổi tại 18 xã vùng dồng bằng sông Hồng(l998) trôn 14.290 trẻ dưới 5 tuổi cho thấy tử vong chung là 7 phần nghìn, trong dó tử vong do viêm phổi là 2,7 phần nghìn (chiếm 38,6%). Tại Hà Nội, trên 9.079 trẻ, thì tỷ lộ tủ vong chung là 5,2 phần nghìn, trong đó tử vong do viêm phổi là 2,8 phần nghìn (chiếm 53,8%) 11|. Tử vong do NKHHCT dặc biệt cao ở tre dưới I tuổi.
Theo một điểu tra tại 5 bệnh viện thuộc lỉnh nà Son Bình (1990), có lới 86% lử vong do viêm phổi Là trẻ dưới I tuổi. Theo Trân Thị Biến và cộng sự, tại khoa Nhi bệnh viên Xanh Pôn (1988-1990) trong 98 ca lử vong do viêm phổi thì có tới 90 ca (88%) thuộc về trẻ dưới I tuổi 121. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự. CHƯƠNG TRÌNH NKHHCT Ó TRẺ EM |4|.
Thây rõ được tám quan trọng. TCYTPG đã thành lộp một Chương trình toàn cầu về chông NKIIIICT ở Ire em. Mục tiêu cơ bản trước mắt cùa Chương trình là giảm tử vong do viêm phổi ở trẻ em dưới 5 hiôi, dặc biệt là trẻ nhỏ dưới I tuồi. Mục tiêu láu dài là làm giảm tần xuất mắc bệnh và giảm sử dung thuốc kháng sinh không họp lý.
Chương trình NKHIỈCT Ire em ở Việt Nam dược thành lập từ năm 1984. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giói, sau Brazil! và là nước dầu tiên ở Châu Á có Chương trình quốc gia. 6 Mục tiêu cơ bàn ( lìa Chương trình lại Việt Nam cũng theo đường lôi chung của TCYTTG, trước inắt lờ làm giám tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi. Ngay sau khi thành lập, Chương trình đã có sự tiếp xúc và được sự tài trợ của TCYITG (1996), đốn năm 1998 được sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF.
Đến tháng 10 năm 1998, Chương trình đã được triển khai lại tất cả các tỉnh, gổm 8. Sớ trẻ (lưới 5 tuổi trong diện được bảo vệ là 7.000, dạt tỷ lệ 76% (41. Cơ SỞ KHOA HỌC ĐỂ XÂY DỤNG PHÁC Đố PHổ CẬP xử TRÍ NKHHCT TRẺ EM. Muốn plìAn loại và xử trí (lúng các trường hợp NKHHCT trẻ cm trước hết phải phát hiện dược các dấu hiệu co’ bản, lù’ dó xác (lịnh trẻ bị bệnh.
Đổ xác (lịnh những dấu hiệu đó, nhicu công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trôn the giới đã dược tiến hành và dã có ứng dụng (1c xây dựng phác đổ phân loại và xứ trí. Các dấu hiệu sau dây dược xác (lịnh có giá trị giúp cho các bà mẹ và CBYT theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời những trường hợp NKHHCT trẻ em. Ho là một phản xạ của cơ quan hô hấp dể lông dòm dãi ra ngoài, làm thông thoáng đường thơ khi bộ phẠn hô hấp bị viêm nhiễm. Các thụ thể ho phần lớn nằm ở vị trí có khả năng liếp xúc lớn, các ngã ba dường thở có kích thước lớn và vừa, nằm chủ yếu ở dường hô hấp liên.
Vì vậy trong viêm phổi, ho thường không nhiều. Trên cơ sở dó có ihể dựa vào dâu hiệu ho dể phát hiện sớm các trường hợp NKIIHCF khi trẻ mới bị nhiễm khuẩn dường hô hấp trcn. Thở nhanh là một phản ứng sinh lý đôi với hiện tượng thiếu ô xy trong viêm phổi, đổng thời khi phổi bị viêm sẽ làm mất lính mềm mại và sự giãn nở của phổi. Muốn xác định ngưỡng thử nhanh phải dựa trên cơ sở nhịp thở bình thường của trẻ tuỳ theo lứa tuổi.
Trẻ càng nhỏ nhịp thở càng nhanh, lúc thức thử nhanh hơn lúc ngủ. Từ nhịp thở bình thường của trẻ tuỳ theo lứa tuổi, cộng thêm 10 nhịp ta sẽ có ngưỡng thớ nhanh cùa 3 độ tuổi theo quy định như sau: - Trẻ dưới 2 tháng tuổi lừ 60 lần /phút trớ lên - Trẻ từ 2 đến 1 I tháng tuổi từ 50 lần /phút trở lên - Trẻ từ 1-4 tuổi từ 40 lÀn/phúl trở lên Thở nhanh là (lâu hiệu quan trọng và có giá trị để phát hiện sớm các trường hợp viêm phổi ở cộng (lồng cũng nhu ỏ bênh viện. Rút lõm lổng ngực nghía là sự cứ dộng lõm vào một cách xác định của phần dưới thành lồng ngực khi tre hít vào. Nếu chỉ có co rút ở phần mềm giữa các xương sườn hoặc vùng trên xương đòn hoặc hõm ức thì đó không phải là lút lõm lổng ngực.
Rút lõm lồng ngực nhẹ là bình thường ở trẻ dưới 2 tháng tuổi vì lổng ngực của trẻ còn mền. Nhưng rút lõm lổng ngực nặng (rất sâu và dễ nhìn thấy) thì có thể là dâii hiệu của viêm phổi [651. Sở dĩ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực là do phổi bị tổn thương nhiều làm mất tính mềm mại, trẻ khó thở phải gắng sức dể thở, các cơ hô hấp phải tăng cường hoạt dông co bóp làm cho lồng ngực bị lõm vào. Vì vậy, khi xuât hiện các dấu hiệu này chứng tỏ trẻ bị viêm phổi nặng phải chuyển ngay đến bệnh viên dể điều trị |4|.
CÁC ĐẤU HIỆU NGUY KỊCH |4|. Ngoài các dấu hiệu chính để phái hiện viêm phổi nói trên, TCYĨTG còn hướng dẫn CBYT phát hiện một sô dấu hiệu nguy kịch khác. Những dấu hiệu này không chỉ có trong viêm phổi mà còn có trong các bênh khác. Nhưng có một trong các dấu hiệu đó thì chứng tó trẻ bị bênh rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng và cần phải đưa trẻ đến bệnh viện để chẩn đoán xác định và xử trí ngay.
Ớ trẻ từ 2 tháng dến dưới 5 tuổi, các dấu hiộu nguy kịch là: Không uống dược, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thó rít khi nằm yên và suy dinh aưỡng nặng. trẻ < 2 tháng tuổi các dấu hiộu nguy kịch là: Bỏ bú hoặc bú kém, thở r khi nằm yên, co giạt, ngủ li bì khó đánh thức, sôi hoặc hạ nhiột độ, thở khò khè. Cơ SÔ KHOA HỌC ĐỂ CHỌN KHÁNG SINH TRONG ĐIỂU TRỊ [4]. Để có cơ sở chọn kháng sinh (lieu trị viêm phổi, nhiều tác giả và chuyên gia của TCY1TG dã nghiên cứu và xác định nguyên nhân viêm phổi (chủ yếu là do vi khuẩn) và từ đó nghiên cứu tính nhạy cảm dối với kháng sinh của các loại vi khuẩn đó để chọn kháng sinh thích hợp.
Một số vi khuản gíìy NKIIIKT thường gặp ỏ trẻ em theo tài liệu của TCYTTG xếp thứ tự như sau: - Haemophilus influenzae. - Bordet el la pertussis. - Các vi khuẩn khác. Ở Việt Nam đã có rất nhiêu công trình nghiên cứu vổ vân đề này ở nhiều vùng khác nhau.
Kết quá cũng tương lự nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Cụ thổ như sau: - Streptococcus pneumoniae. - Các vi khuẩn khác. Như vậy, hai vi khuẩn thường gập gây NKIIHCT ở trẻ em là Haemophilus influenzae và Streptococcus pneumoniae.
TÍNH HOP LÝ TRONG Đlííu TRI VIÊM PHOI BANG KHÁNG SINH THEO KINH NGHIÊM. Viêm phổi ở trẻ em do râl nhiều nguyên nhân vi sinh vật gây nên, do vậy điểu lý tưởng nhất là chọn kháng sinh sau khi dã có kết quả chẩn đoán nguyên I .-s nhân gây bệnh.